Chuyện nhà vô địch Jūdō một tay và một bài học về tự do trong vận động

Tranh minh họa kỹ thuật Hiza-guruma trong môn Nhu Đạo

Có một câu chuyện được lưu truyền khá rộng rãi trên mạng internet, về một cậu bé chỉ có một tay nhưng luyện được “tuyệt chiêu” của môn Nhu Đạo và vô địch một giải đấu lớn. Nó thường được kể để minh họa cho ý tưởng [viển vông] rằng hạn chế về thể chất chính là lợi thế. Tình cờ tôi đã tìm được một phiên bản có thể tạm coi là gốc, với ý nghĩa khác xa phiên bản “phổ thông” nọ.

Tuy có một vài dị bản, cả tiếng Anh và tiếng Việt (tôi chưa thử tìm các ngôn ngữ khác) nhưng khác biệt chỉ ở tiểu tiết. Đại khái câu chuyện như sau:

  • Một cậu bé chỉ có một tay đến tập Jūdō;
  • Huấn luyện viên chỉ dạy một kỹ thuật duy nhất;
  • Cậu bé tập nhiều tháng, rồi được thầy đăng ký cho thi đấu;
  • Cậu thắng hết trận này đến trận khác;
  • Đối thủ trong trận chung kết quá to lớn và đã vô địch liền ba năm, trọng tài hỏi cậu bé có muốn rút lui không nhưng huấn luyện viên yêu cầu đấu tiếp;
  • Cậu bé thắng, trở thành quán quân giải đấu;
  • Cậu bé thắc mắc, huấn luyện viên chỉ ra hai lý do: 1) cậu đã thuần thục một trong những kỹ thuật nguy hiểm nhất của Judo, và 2) cách duy nhất để chống chiêu đó là phải túm được cả hai tay (hoặc tay trái, tùy bản) của cậu;
  • Kết luận: đôi khi hạn chế lại là lợi thế.

Không cần kiến thức cao siêu gì chúng ta cũng có thể nhận ra câu chuyện này chẳng qua là một thứ chicken soup for the soul, được sáng tác để nuôi ảo tưởng nhiều hơn là làm đẹp tâm hồn.

Phiên bản tạm-coi-là-gốc tôi tìm được trong cuốn When Buddhists Attack của Jeffrey Mann – thực ra dẫn lại từ sách của nhà nghiên cứu Thiền Trevor Leggett (1914-2000), người đồng thời cũng là một võ sư Nhu Đạo – có nội dung cơ bản như sau:

  • Một cậu bé chỉ có một tay tập Nhu Đạo;
  • Cậu bé tuy cũng khá (nhất là với người chỉ có một tay) nhưng hoàn toàn không có cửa thắng được những môn sinh lành lặn;
  • Nhưng cậu rất muốn thắng giải và một vị thầy nhận tập huấn riêng cho cậu, thầy chỉ cho cậu tập hai biến thể của một kỹ thuật duy nhất là Hiza-guruma;
  • Khi lên lớp tập cùng bạn bè, cậu chỉ luyện phòng thủ;
  • Vị thầy hiểu rằng cách chống đòn Hiza-guruma phổ biến là túm tay đối thủ;
  • Bước vào giải đấu, cậu bé thắng hết vòng này đến vòng khác, lần nào cũng quật ngã được đối thủ vì họ đều dựa vào thói quen và tìm cách túm lấy cánh tay mà cậu bé vốn không có.
  • Cuối cùng, cậu bé thắng giải, hoàn thành ước nguyện.

Và đây là lời bình của Leggett:

“Thật ra, rất dễ đánh bại người chỉ đơn thuần thực hiện kỹ thuật theo phản xạ. Ta có thể điều khiển cơ thể người đó thông qua các phản xạ ấy. Chỉ cần khởi động một chuỗi phản xạ của người đó rồi đợi để phản công mà thôi.”

Trong ví dụ trên, thực ra không phải cậu bé giỏi hơn hay đã luyện thành tuyệt chiêu nào cả. Vấn đề là ở các đối thủ của cậu. Tất cả bọn họ đều mắc “bệnh thói quen” và phản xạ rập khuôn theo đúng những gì đã luyện tập mà không để ý xem đối thủ như thế nào. Để phá đòn Hiza-guruma, tất cả bọn họ đều tìm cách túm tay đối thủ và khi không túm được tay cậu bé (có đâu mà túm) thì họ mất thăng bằng và lập tức bị quật ngã. Đó là điều nguy hại của việc tập luyện rập khuôn, máy móc.

Dĩ nhiên là nếu các đấu thủ có thời gian tìm hiểu, họ sẽ sớm tìm ra cách chống lại đòn Hiza-guruma của cậu bé một tay. Nhưng nếu phải phản ứng tức thì, họ sẽ không làm được.

Trước câu chuyện này, còn có một ví dụ cổ hơn, cũng được Leggett nhắc đến trong cuốn Zen and the Ways:

Thời Mạc Phủ Tokugawa, một phái Nhu Thuật nọ đột nhiên có nhiều môn đồ bị sát hại bí ẩn. Tất cả các xác chết đều giống nhau: chỉ một vết đâm giữa ngực, không hề xuất hiện dấu vết chiến đấu nào. Thật lạ lùng vì nạn nhân đều là người luyện võ lâu năm, dù có bị giết thì cũng phải đánh được một trận ra trò trước khi chịu thúc thủ.

Cuối cùng người ta phát hiện ra rằng có kẻ đã tìm được cách khai thác thói quen của các môn sinh kia khi chống lại một đòn tấn công cụ thể. Hắn ta tiếp cận nạn nhân với một thanh đoản kiếm cầm bằng tay trái, giữ ở ngang hông. Khi tiến đủ gần, hắn vung kiếm, sẵn sàng chém xuống. Nạn nhân theo bản năng lập tức phản xạ. Nhưng họ đều không nhận ra rằng kẻ kia đã thay đổi cách cầm kiếm ngay từ đầu. Hắn xoay ngược mũi kiếm về phía trước. Cái được vung lên thực ra là bao kiếm. Và khi các nạn nhân chỉ tập trung đỡ cái bao kiếm vừa được vung lên, lưỡi kiếm dễ dàng đâm thẳng vào ngực họ.

Đó chính là lý do Thiền đóng vai trò quan trọng trong các môn võ thuật Á Đông, đặc biệt là võ thuật Nhật Bản. Nó là một phương pháp giúp chúng ta thoát ra khỏi thói quen và thứ “công phu nửa mùa” của những phản xạ có điều kiện, để đạt đến tự do mà trước hết là tự do trong vận động.

 

 

Published by

Lưu Quang (流光)

Dịch sách dạo kiếm gạo nuôi mèo

3 thoughts on “Chuyện nhà vô địch Jūdō một tay và một bài học về tự do trong vận động”

  1. Bài viết hay quá, kết quả của các vấn đề không phải cái gì đó cao siêu mà túm lại là tâm thức của người học võ.

  2. Các cao thủ đều ra sức tập luyện chiêu thức cho thuần thục và sự thuần thục biến thành phản xạ. Nhưng hành động theo phản xạ dễ bị đánh lừa !

Leave a Reply