Quà của Bob – Chương 2: Chú nhóc sau rèm

Mèo Bob giới thiệu sách tại hiệu Waterstone ở Coventry, tháng Mười 2014 – Ảnh: Coventry Telegraph

BẢN DỊCH THỬ MỪNG GIÁNG SINH 2017
KHÔNG DÙNG CHO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI

VUI LÒNG CHỈ DẪN LINK
KHÔNG SAO CHÉP TOÀN VĂN

Có câu ngạn ngữ cổ nói rằng “Giáng Sinh không phải một mùa mà là một cảm xúc”. Tôi tin chắc câu ấy đúng. Với hầu hết mọi người thì cảm giác ấy gần như niềm vui trẻ nhỏ. Dù là sự hứng khởi và kỳ vọng vào Đêm Giáng Sinh hay sự nồng ấm của tiếng cười quanh bàn ăn vào bữa tối Giáng Sinh, cảm giác ấy là thứ khiến đây là khoảng thời gian hạnh phút nhất trong năm của họ.

Trong khoảng ba mươi năm đầu tiên của đời mình, cảm xúc mà Giáng Sinh dấy lên trong tôi rất khác. Tôi chủ yếu liên kết nó với nỗi buồn và sự cô đơn. Đó là lý do khiến tôi thường sợ nó. Đó là lý do tôi chỉ muốn nó trôi qua.

Thái độ của tôi chẳng đáng ngạc nhiên lắm khi xét đến cách tuổi thơ và thời thiếu niên tôi diễn ra.

Tôi sinh ra ở Surrey nhưng ba mẹ tôi ly thân không lâu sau khi tôi đến với thế giới này. Thế rồi, lúc tôi lên ba, mẹ và tôi rời nước Anh đến nước Úc, nơi bà có họ hàng. Mẹ kiếm được việc và thành nhân viên bán hàng ngôi sao của hang máy phô-tô-cóp-py Rank Xerox.

Tôi là con một, còn cuộc sống thì khá bất ổn; chúng tôi chuyển từ thành phố này sang thành phố khác vì công việc của mẹ, có nghĩa là tôi đã học qua rất nhiều trường. Tôi chẳng ổn định được ở bất kỳ nơi nào trong số đó và kết quả là bị bắt nạt thường xuyên. Tôi thường cố gắng hòa nhập và kết bạn quá mức đến nỗi hiển nhiên thành ra khác với đám đông. Đó chưa bao giờ là một điều tốt ở trường học. Ở thị trấn nhỏ Quinn’s Rock nơi miền Tây nước Úc, tôi bị một đám trẻ con ném đá, chúng nghĩ tôi là một thằng lập dị lạc loài. Chuyện đó khiến tôi bị căng thẳng thần kinh.

Phần lớn thời gian ở nhà tôi lại chỉ có một mình, việc ấy cũng chẳng giúp ích gì. Mẹ tôi làm việc quần quật, đi khắp nước Úc rồi sang cả nước khác, và đi họp suốt đến mức tôi thật ra được các bảo mẫu và người trông trẻ nuôi dạy. Tôi hiếm khi có bạn.

Việc di chuyển liên tục khắp nơi khiến chúng tôi không thực sự có lễ Giáng Sinh truyền thống bên gia đình. Ba tôi ở lại Anh nên ông không thể đến thăm nhưng ông rất hào phóng khi gửi quà. Tôi nhớ như in có một năm nhận được đồ chơi Rô-bốt Biến Hình gốc[1]. Tôi còn được cả máy bộ đàm và những chiếc xe đắt tiền của hãng Matchbox.  Tôi thật sự trân trọng chúng còn thấy hào hứng hơn khi được nói chuyện với ba qua điện thoại. Với tôi, được nghe giọng nói vang vọng xa xôi của ông từ bên kia Trái Đất thường là điểm nhấn trong dịp Giáng Sinh.

Chúng tôi có gia đình ở Úc, đặc biệt là anh của mẹ tôi, bác Scott của tôi cùng gia đình bác ấy, chúng tôi gặp họ trong những dịp hiếm hoi đến Sydney. Thế nhưng tôi không dành mùa nghỉ lễ với họ. Trái lại, ý tưởng mừng Giáng Sinh của mẹ lại là tiêu thật nhiều tiền để hai chúng tôi đi du lịch. Bà hẳn phải kiếm được khá tiền lúc ấy vì chuyến nào cũng rất sang. Chúng tôi đi ít nhất ba chuyến như thế, tới Mỹ, Thái Lan, Singapore và Hawaii. Chẳng hạn, một năm, chúng tôi bay về phía Đông, từ Úc đi Hawaii, bay qua Đường Đổi ngày Quốc tế[2]. Thế là chúng tôi đã bay ngược thời gian. Chúng tôi rời Úc vào Lễ Tặng quà[3] nhưng đến Hawaii khi vẫn còn là Ngày Giáng Sinh.

Thế là tôi đã có hai Ngày Giáng Sinh. Chắc hẳn phải thú vị lắm, và tôi tin tôi đã rất vui. Mẹ thường nói với tôi về những chuyến du lịch của chúng tôi nhưng tôi thì nhớ rất ít.

Điều tôi thực sự nhớ tới lại là tôi trải qua phần lớn thời gian của các chuyến du lịch một mình. Có năm chúng tôi dừng ở Las Vegas, nơi mà mẹ dành gần hết thời gian ở sòng bạc và bỏ tôi lại phòng khách sạn. Hoàn toàn không có gì cho tôi làm nên tôi chỉ toàn xem ti-vi. Đáng ra tôi cũng chẳng phải nghĩ nhiều, trừ việc đó là truyền hình trả phí và tôi chẳng thể nào xem được. Thế là tôi đã dùng cả kỳ nghỉ để xem liên tu bất tận một chương trình miễn phí duy nhất trên kênh riêng của khách sạn. Đó là đoạn giới thiệu chương trình Giáng Sinh Đặc biệt của Dolly Parton. Bạn có tưởng tượng được cơn ác mộng xem Dolly Parton nói đi nói lại “Bà con thế nào”[4] suốt bốn giờ liền không nghỉ không? Tôi thỉnh thoảng vẫn choàng tỉnh trong mồ hôi lạnh vì mơ thấy chương trình ấy.

Chúng tôi còn thăm cả New York. Đáng lẽ đó phải là chuyến đi thật thú vị, nhưng mẹ lại bị đau nửa đầu, thế là tôi phải chăm sóc bà. Tôi bị giam trong căn phòng được che rèm cho tối bớt suốt nhiều ngày – hoặc tôi cảm thấy thế. Có một thời điểm buồn chán đến nỗi, tôi vẫn nhớ như in, tôi đứng sau tấm rèm đã kéo lên, mặt dán vào kính mà nhìn tuyết rơi xuống vỉa hè của thành phố New York bên dưới. Cảnh tượng tuyệt đẹp, nhưng trong một bộ phim Hollywood thập niên 1950. Đó có lẽ là điều màu nhiệm nhất về Giáng Sinh mà tôi hồi tưởng được về tuổi thơ.

Có những ký ức khác nữa, những ký ức mạnh mẽ. Chẳng hạn, tôi nhớ trên một trong những chuyến bay đường dài, tôi làm đổ cả cốc to nước cam ra khắp bộ com-lê xanh dương lịch lãm đang mặc. Tôi chẳng biết được làm thế nào mẹ tôi chi trả được, nhưng chúng tôi bay vé hạng nhất. Bộ com-lê bị ướt đến mức cô tiếp viên phải đưa tôi xuống tầng dưới, vào khoang bình dân để thay bộ áo choàng tắm[5]. Nhưng khi tôi cố vào lại khoang hạng nhất thì người ta không cho. Mẹ ngủ say nên chẳng biết tôi không ở đấy. Một nam tiếp viên cứ nhất quyết đặt tôi vào ghế ở khoang bình dân. Tôi vẫn còn nhớ mặt chú ấy, trông hơi giống Barack Obama. Chú bắt tôi ngồi xuống rồi dang tay thật rộng ra kéo tấm rèm ngăn khoang bình dân với khoang hạng nhất rồi khóa dán[6] lại. Cứ như là tôi bị trừng phạt vì dám nghĩ rằng mình thuộc về một không gian sang trọng như thế.

Tôi sẽ chẳng bao giờ quên vẻ mặt ngượng ngùng của chú ấy khi tôi lẻn được, ở lần thử thứ tư, chui qua tấm rèm và trèo lên tầng trên, vào lại ghế ngay bên cạnh mẹ tôi, lúc ấy vừa tỉnh giấc. Chú hầu như không tin nổi khi được mẹ trấn an rằng tôi đúng là đi cùng với bà thật. Tôi thường nghĩ về khoảnh khắc ấy như một biểu tượng cho hướng mà đời tôi tiếp diễn sau đó. Nó vẫn gần như tóm gọn được mọi chuyện đến tận bây giờ. Chẳng ai muốn tôi phá hỏng thế giới nhỏ ấm cúng của họ, chẳng ai nghĩ tôi thuộc về nơi đó. Tôi luôn luôn là chú nhóc đứng nhầm phía của tấm rèm.

Tôi không muốn tỏ ra vô ơn, cũng không hề muốn trách mẹ vì việc này. Mẹ có rất nhiều vấn đề của riêng mình, còn tôi thì chẳng phải lúc nào cũng là đứa con ngoan, không có gì phải nghi ngờ. Lúc ấy có lẽ mẹ nghĩ đang làm điều tốt, cho tôi thấy thế giới và những thứ đẹp đẽ trên đời. Nhưng từ góc nhìn của tôi thì mọi thứ trông rất khác. Với tôi thì bà đang cố bù đắp cho thực tế là bà chẳng bao giờ ở bên tôi trong suốt phần còn lại của năm. Những ngày nghỉ Giáng Sinh phô trương này chỉ đơn giản là cách bà đền bù việc vắng mặt. Mẹ không nhận ra rằng điều tôi cần đâu phải là khoang máy bay hạng nhất hay khách sạn năm sao. Tôi chỉ muốn dành chút thời gian đáng giá với người mẹ tôi hầu như không biết đến trong một môi trường gia đình tử tế. Và trên hết, dĩ nhiên là tôi muốn được yêu thương.

Lúc tôi khoảng mười hay mười một tuổi, mẹ và tôi chuyển về nước Anh sống vài năm. Giáng Sinh vẫn cứ là dịp khá cô độc, lần này thì vì lý do khác. Cả hai kỳ Giáng Sinh của tôi ở Anh đều đáng nhớ theo cách riêng. Tôi mừng kỳ lễ đầu tiên với ba và vợ ông lúc ấy là Sue, và cô em gái cùng cha khác mẹ Caroline, khi ấy mới lên ba. Đó có lẽ là thứ gần với lễ Giáng Sinh “bình thường” và “hạnh phúc” nhất mà tôi từng có, theo nghĩa tôi có một đại gia đình, được ăn uống, được tặng quà, được xem truyền hình. Tôi thực sự tận hưởng cảm giác mình thuộc về một gia đình lớn. Và tất nhiên là thật tuyệt vời khi được ở cạnh ba vào dịp Giáng Sinh thay vì chỉ được nói chuyện với ông qua điện thoại đường dài. Đó cũng là lễ Giáng Sinh gia đình điển hình theo nghĩa khác nữa, chẳng hạn như có cả chuyện cãi vã. Tôi nhớ mẹ mua con búp bê đồ chơi cho Caroline ở một trạm xăng trên đường đến nhà ba. Nó là loại kêu “oaaaa” khi bạn đánh nó. Caroline còn quá nhỏ và tôi thì thường khuyến khích em ấy kêu giống như con búp bê, khiến cho ba rất khó chịu.

“James, thôi ngay,” ông cứ quát suốt.

Nhìn lại chuyện đó, tôi nhận thấy ba đã coi tôi là đứa trẻ có vấn đề, ngay ở tuổi ấy. Mười hai tháng sau thì đó là quan điểm được nhiều người khác chia sẻ. Tôi tốn cả lễ Giáng Sinh tiếp theo để làm kiểm tra và xét nghiệm trong viện tâm lý thanh niên thuộc Bệnh viện Colwood tại Haywards Heath, West Sussex.

Đến thời điểm ấy thì tôi với mẹ cãi cọ rất nhiều. Hành vi của tôi nhiều lúc cực đoan đến mức bà bị thuyết phục rằng tôi có vấn đề về tâm lý. Một trong các bác sĩ tôi gặp lo tôi bị trầm cảm, thế là tôi được cho dùng lithium mấy tháng. Tuy vậy, đó chẳng phải giải pháp dài hạn, thế là tôi được đưa đi xét nghiệm. Họ đã kiểm tra tất cả mọi thứ, từ tâm thần phân liệt đến trầm cảm hưng cảm và ADHD nhưng không đưa được câu trả lời dứt khoát là tôi bị làm sao.

Tôi không nhớ nổi hầu hết những việc đã xảy ra với mình lúc ở Colwood. Một phần vì những gì tôi phải trải qua trong giai đoạn xét nghiệm, nhưng cũng một phần vì tôi được cho uống đủ thứ thuốc. Tôi vẫn còn những kỷ niệm sống động về việc bị tiêm thuốc và rồi ngủ thiếp đi. Đến khi tỉnh dậy thì tôi chẳng hề biết mình đã ở đâu. Đôi khi việc đó xảy ra hoàn toàn bất ngờ; một bác sĩ xuất hiện bên cạnh tôi với một ống tiêm và tôi đột nhiên bị mất ý thức. Tôi không bao giờ chống cự, điều đó đáng sợ nhưng tôi tin tưởng các bác sĩ và muốn rắc rối của mình biến đi. Tất nhiên là chúng chẳng biến.

Không ngạc nhiên khi Giáng Sinh tôi trải qua ở Colwood thật mơ hồ. Điều duy nhất tôi hồi tưởng được là ba đã dưa tôi ra ngoài xem một vở kịch câm. Đó là một kỷ niệm vui. Hẳn phải là vở Cinderella vì tôi nhớ nhân vật Buttons đã ném nhưng viên kẹo sô-cô-la Cadbury’s Buttons™ vào khán giả. Tôi còn nhớ rằng Caroline đã khóc trên đường về vì cái đũa phép của em ấy bị gãy. Tâm trí người ta giữ cái nọ bỏ cái kia, thật kỳ quặc.

Đến Giáng Sinh tiếp theo thì chúng tôi đã quay về Úc rồi. Mẹ tôi hơi nhớ nhà nhưng tôi nghĩ bà cho rằng quay lại cũng sẽ tốt cho đầu óc tôi. Thế là cùng với bạn trai mới tên là Nick, mẹ quyết định chúng tôi nên chạy trốn. Nhưng chẳng trốn đâu được khỏi sự thật rằng tôi là một đứa trẻ không hạnh phúc và mẹ với tôi chẳng hợp nhau.

Tôi nhớ nước Anh và nhớ ba. Tôi cũng nhớ những tình cảm tôi tìm được nơi ấy. Tôi tiếp tục cãi vã với mẹ và Nick, người tôi thật sự không ưa nổi. Ngoài Giáng Sinh năm ấy với ba, kỷ niệm ấm áp nhất từ quãng thời gian chúng tôi ở Anh là cô y tá tên Mandy. Cô là người tốt bụng nhất tôi từng gặp. Cô dành rất nhiều thời gian cho tôi khi tôi ở Bệnh viện Colwood, không chỉ để chăm sóc mà còn để nói chuyện với tôi và lắng nghe tôi, đó là điều tôi chưa từng thực sự được trải nghiệm trước đó.

Về lại Úc, tôi nhận nuôi một cô mèo hoang từ trung tâm cứu trợ. Tôi rất thích cô mèo và nó cũng có vẻ thích tôi lắm, nên tôi gọi nó là Mandy để gợi nhớ về thời gian hạnh phúc ở Anh.

Dù vậy, ngoài việc đó ra thì cuộc sống của tôi ở Úc lao dốc khá đều. Tôi dành thời gian ở những bệnh viện khác, nhưng nếu những chỗ đó có tác dụng gì thì chỉ làm làm cho tình hình tệ thêm mà thôi. Tôi đã ở viện tâm thần thuộc Bệnh viện Công chúa Margaret tại Perth, miền Tây nước Úc một thời gian. Khi gần mười bảy tuổi thì tôi bị nhét vào một chỗ gọi là Bộ phận Tâm thần Trẻ em bệnh viện Frankston ở mãi bờ bên kia đất nước, bang Victoria. Lúc ấy tôi đã thực sự là một gã bốc đồng và đã thử dùng các loại thuốc. Tôi thử từ keo cho đến các loại thuốc chữa bệnh, bất kỳ thứ gì có thể cho tôi sự hưng phấn tôi thèm khát. Tuyệt nhiên chẳng còn việc gì khác để làm trong bệnh viện. Đấy cũng là cách tôi thoát khỏi thực tế kinh hoàng tại nơi đó.

Lúc ở Frankston tôi đã thấy những điều tôi không mong ai gặp phải. Một hôm, người “bạn tù” lớn tuổi hơn tôi, một tay nghiện xe máy nặng mà mọi người gọi là ‘Rev’, hỏi mượn tôi dao cạo. Tôi ngây thơ tưởng rằng anh ta muốn cạo râu, nhưng dĩ nhiên là không phải. Tôi thật sự thấy tội lỗi vì chuyện đó trong suốt một thời gian dài, dù may sao anh ta không chết. Anh ta chỉ cần một sự giải thoát.

Thật dễ để người ta nói rằng họ không có một tuổi thơ ổn định nhưng trong trường hợp mình, tôi nghĩ đó là lời khẳng định khá chính xác. Việc ba mẹ tôi bỏ nhau cộng với một tuổi thơ tưởng như liên tục di chuyển, mà thường là từ đầu này sang đầu kia thế giới, khiến cho cuộc sống trở nên cực kỳ bất ổn. Nhìn vào đó, tôi đoán sự suy sụp xảy ra khi tôi về lại nước Anh ở tuổi mười tám gần như là không thể tránh khỏi. Trở lại chuyện ở Úc, tôi được bác sĩ chẩn đoán là mắc Viêm gan Siêu vi C mà theo họ là do tôi dùng ma túy. Lúc ấy, tôi đã khóc khi họ nói rằng tôi chỉ sống được thêm không quá mười năm. Hóa ra là tôi có hệ miễn dịch cực khỏe và đã khỏi bệnh, nhưng hồi đó tôi không hề biết.

Tôi quay lại nước Anh với một án tử hình treo trên đầu. Tôi ấp ủ tham vọng trở thành nhạc công nhưng đã tan thành mây khói. Ngược lại, tôi lê từ nhà này sang nhà khác, rồi từ chiếc sô-pha này sang sô-pha khác, và cuối cùng là ra đường ngủ bờ ngủ bụi. Vừa ra đường là tôi bập ngay vào hê-rô-in và những thứ ma túy khác để giải thoát. Tôi dùng bất kỳ thứ gì làm mờ được các giác quan của mình. Đời tôi cứ thế mà lao dốc, xuống mãi xuống mãi. Đôi lúc tôi phải lắc đầu tự hỏi sao mình lại vẫn còn sống.

Kết quả là Giáng Sinh càng trở nên bớt ý nghĩa với tôi. Nó đơn giản là một thời điểm trong năm cần phải sống sót qua, chứ không phải cần tận hưởng.

Đến lúc ấy, tôi đã có được vài lễ Giáng Sinh với ba ở Nam Luân Đôn, nhưng chẳng lấy gì làm tốt đẹp. Tôi hầu như không còn liên lạc với gia đình nữa; tôi cảm thấy họ coi tôi là con cừu đen, và đó là quan điểm hợp lý. Tôi rõ ràng chẳng phải đứa con riêng dễ bảo nhất trên đời.

Hậu quả là Giáng Sinh với ba có nghĩa là xuất hiện vào Đêm Giáng Sinh, ở lại Ngày Giáng Sinh và bị quẳng ra ga vào sáng ngày Lễ Tặng quà, theo đúng nghĩa đen. Một lần tôi bị thả ở đó để rồi phát hiện ra rằng không hề có tàu, thế là tôi phải cuốc bộ gần một giờ, đi khoảng bốn dặm đến Croydon đón tàu mặt đất[7]. Chuyện đó cho thấy Giáng Sinh là thời điểm tệ đến thế nào của năm, ít nhất là với tôi.

Thành thật mà nói thì lý do chính khiến tôi đến chỗ ba là để được ăn một bữa tử tế. Vào quãng ấy thì thức ăn ngon là của hiếm với tôi. Tôi sống trong khu cư trú và chẳng kiếm ra tiền. Có những lúc tôi tuyệt vọng đến mức phải đi bới thùng rác sau các siêu thị lớn. Tôi chẳng quan tâm mình ăn gì, miễn là còn ăn được. Vì vậy, tôi thực sự trông chờ vào bữa tối Giáng Sinh, để được thấy cái đĩa đầy ắp thức ăn ấy được dọn ra, và để được trao cái quyền tự do chất đầy một đĩa nữa ngay khi vừa ăn xong.

Từ tất cả những điều ấy, thật chẳng ngạc nhiên khi Giáng Sinh không có mấy ý nghĩa ngay cả khi tôi bắt đầu ổn định cuộc sống. Mọi điều mà nó đại diện – gia đình, sự gần gũi, tình thương, cộng đồng và lòng nhân ái – với tôi đơn giản là không tồn tại. Trong khi mọi người khác đều chờ mong đến Giáng Sinh và tận hưởng việc chuẩn bị thì tôi hoàn toàn chưa từng hiểu được sự hào hứng ấy. Tôi không hiểu sao người ta lại tốn nhiều tiền đến thế và chuẩn bị kỹ càng đến thế cho cái ngày mà với tôi dường như chỉ là một ngày khác trong năm. Tôi thật sự nhìn nó với chút lo âu, gần như là sợ hãi.

Đó là điều mà mọi người, nhất là Belle, thấy khó hiểu. Tình bạn của tôi với nàng, như phần lớn mọi thứ trong đời tôi, thật phức tạp. Chúng tôi gặp nhau lần đầu vào khoảng năm 2002, khi tôi đang nỗ lực – và thất bại – làm nên tên tuổi với ban nhạc gọi là Hyper Fury. Ban nhạc trải qua một giai đoạn ngắn mà chúng tôi diễn được một số buổi quanh Luân Đôn, đặc biệt là ở Camden. Tôi gặp nàng tại một câu lạc bộ tên là The Underworld ở đó. Tôi đang ở quầy ba thì nàng đi vào và vô tình nghe thấy tôi nói chuyện với một phụ nữ khác về việc ngày sinh của chúng tôi liền với nhau, tôi sinh ngày 15 tháng Ba, còn cô ấy sinh ngày 16 tháng Ba.

“Ôi vui thế,” Belle chen vào. “Sinh nhật tôi là ngày 17 tháng Ba.”

“Là ngày Lễ Thánh Patrick đấy,” tôi nói. Chúng tôi nhanh chóng bắt chuyện.

Tôi thấy nàng vui vẻ và dễ nói chuyện nên chúng tôi dành cả phần còn lại của tối ấy để tán gẫu.

Lúc ấy nàng đang hẹn hò với một người khác nhưng họ đang lạnh nhạt với nhau. Chúng tôi đồng ý gặp lại sau đó khoảng một tuần và thấy quá hợp nên Belle chấm dứt mối quan hệ và chúng tôi thành một đôi.

Belle là người Luân Đôn, sinh ra và lớn lên ở đó, và trẻ hơn tôi mấy tuổi. Nhưng dù lớn lên ở cách nhau nửa vòng Trái Đất, cuộc đời chúng tôi vẫn đi theo quỹ đạo gần giống nhau. Nàng trải qua khoảng thời gian khó khăn ở nhà, nhất là vì mất bà ngoại, người nàng coi như người mẹ thứ hai. Cũng như tôi, nàng trở thành một thiếu niên quậy phá với những vấn đề tâm lý tương tự. Nàng cũng dễ bị trầm cảm và cũng bắt đầu dùng ma túy, từ cần sa đến những thứ nặng dần, nặng dần. Tôi hoàn toàn hiểu khi nàng nói đó là cách nàng ngăn chặn những đau đớn, là cách thoát khỏi thế giới nơi nàng quá cô đơn. Tôi biết chính xác nàng cảm thấy thế nào. Điều đó tạo nên mối liên kết khăng khít giữa chúng tôi và mối tình đơm hoa được ít lâu. Có giai đoạn chúng tôi sống chung một căn hộ.

Chính trong giai đoạn chung sống đó Belle đã được tận mắt thấy vì sao và làm thế nào mà Giáng Sinh lại ít có ý nghĩa với tôi đến vậy. Tôi được mời đến và ở lại với mẹ kế Sue ở Nam Luân Đôn trong những ngày cận Giáng Sinh nên đã rủ Belle đi cùng để gặp gia đình mình. Nàng nhanh chóng cảm thấy không khí căng thẳng giữa chúng tôi. Chúng tôi cãi vã nhiều, nhất là xung quanh lời bình phẩm của ai đó về việc không hiểu một cô gái bình thường dễ mến như Belle đang làm gì với tôi. Việc đó làm tôi nổi giận.

“Cứ thử sống đời tôi xem,” tôi nhổ lại vào họ.

Ngược lại, Belle rất gần gũi với ba mẹ nàng và có kế hoạch về nghỉ Ngày Giáng Sinh tại nhà ở Tây Luân Đôn. Đó là thời điểm đặc biệt trong năm nên họ tổ chức ra trò. Vào ngày Lễ Tặng quà, tôi được mời đến gặp ba mẹ nàng. Không khí ở đấy chẳng thể khác biệt hơn; rất ấm cúng và thân tình. Mẹ nàng quý tôi lắm, đến mức bà nấu cả một bữa tối Giáng Sinh thứ hai với đầy đủ các thứ trang trí. Họ thậm chí mua cả quà cho tôi, khiến tôi cực kỳ bối rối. Việc đó cho tôi vài nét chấm phá về hình ảnh một Giáng Sinh hạnh phúc bên gia đình.

Không may thay, mối tình của chúng tôi chẳng dài lâu. Vào thời điểm ấy của cuộc đời, chúng tôi đều đang vật lộn với con quỷ bên trong mình và việc đó quá khó khăn. Chúng tôi không tốt cho nhau về khía cạnh ấy. Chúng tôi quyết định tạm xa nhau một thời gian nhưng vẫn giữ liên lạc. Năm tháng trôi qua, chúng tôi dần dần nhận ra mình làm bạn thì tốt hơn là người yêu. Trong lúc chúng tôi cùng đối mặt với những vấn đề riêng thì tình bạn ngày một sâu đậm, trở thành một mối liên kết khăng khí mà cả hai đều biết sẽ trường tồn.

Belle với tôi hợp nhau cực kỳ. Chúng tôi có nhiều sở thích chung, trong đó có mèo. Hồi còn thiếu niên, nàng từng nhận nuôi một con mèo tên là Poppy từ tổ chức thiện nguyện Cats Protection. Poppy được tìm thấy trong nhà một cụ già từng cứu giúp hơn một chục con mèo. Khi ông cụ qua đời, tất cả lũ mèo được chi nhánh Cats Protection địa phương đón về. Lúc chúng tôi gặp nhau thì Poppy đã được bảy tuổi nhưng ngay cả đã ở tuổi mười lăm nó vẫn đầy sinh khí. Theo rất nhiều cách, Poppy quan trọng với Belle cũng như Bob quan trọng với tôi. Nó mang nụ cười đến cho nàng cả trong những ngày đen tối nhất. Nó là nguồn yêu thương vô điều kiện của nàng.

Nhìn vào đấy thì không ngạc nhiên khi Bob thân với Belle. Hắn luôn luôn vui vẻ ở với nàng khi tôi ốm đau hay không ở nhà. Đặc biệt, hắn đã ở chỗ nàng trong kỳ Giáng Sinh thứ hai của chúng tôi, khi tôi thực hiện chuyến đi đầy cảm xúc đến Úc thăm mẹ lần đầu tiên sau bao nhiêu năm.

Chính Bob đã chậm rãi thay đổi thái độ của tôi với lễ Giáng Sinh. Kỳ Giáng Sinh đầu tiên chúng tôi đón cùng nhau năm 2007 đơn sơ hết mức. Hai chúng tôi ăn một bữa rồi ngồi trước ti-vi cả ngày, nhưng tôi không nghi ngờ việc đó là kỳ nghỉ hạnh phúc nhất tôi từng có. Đó là lần đầu tiên tôi có “cảm xúc” Giáng Sinh.

Đến thời điểm ấy chúng tôi đã sống chung được chín tháng và trải qua nhiều chuyện. Khi tôi gặp hắn, hắn trông như vừa đánh nhau, có lẽ là với con thú khác. Lúc đầu tôi còn đoán hắn thuộc về ai đó, nhưng khi tôi thấy hắn mọc rễ ở cùng một chỗ mấy ngày sau, tôi quyết định phải làm gì đó. Tôi mang hắn đi khám ở chi nhánh RSPCA trong khu vực và mua thuốc cho hắn ở đấy. Rồi tôi chăm cho hắn khỏe lại.

Tôi kết hắn ngay lập tức. Hắn rất cá tính, trầm lặng và thông thái. Tôi đã cố tìm chủ của hắn, nhưng không ai nhận cả, nên tôi đoán hắn là mèo hoang hay mèo đường phố. Chính lúc đó tôi đặt tên hắn là Bob.

Tôi dự kiến tình bạn của chúng tôi sẽ ngắn ngủi. Tôi đoán chừng nào khỏe lại, hắn sẽ muốn trở lại đường phố. Hắn là một gã ồn ào và có vẻ như sẽ tự lo thân được ngoài đó. Tuy vậy, hắn có ý tưởng khác.

Khi tôi cố đuổi hắn đi, hắn nhất quyết chẳng rời. Một ngày nọ, hắn thậm chí còn nhảy lên xe buýt mà tôi đi để được ở cạnh tôi, khiến cho tôi kinh ngạc.

Và thế là chúng tôi thành ra không thể tách rời. Theo rất nhiều cách, chúng tôi là một cặp đôi kỳ quặc, nhưng theo vài cách khác thì chúng tôi giống nhau như hai giọt nước, là hai linh hồn đang cố gắng sống sót qua ngày giữa Luân Đôn. Tôi cũng cảm thấy hắn như gia đình mình. Hắn cho tôi sự quan tâm và tình bạn, và, phải, cả tình yêu thương mà tôi thèm khát bấy lâu. Hắn cho tôi viễn cảnh về một cuộc đời mới, cuộc đời sẽ đưa tôi ra khỏi đường phố. Mấy tháng vừa qua, tôi đã có vài cuộc gặp gỡ không ngờ mà đầu tiên là với một quý bà người Mỹ sống ở Islington. Bà là người đại diện cho các nhà văn[8] và đã thấy chúng tôi ngồi quanh khu ga tàu điện ngầm Angel. Bà tự hỏi không biết câu chuyện của Bob và tôi có thành sách được không. Sau lần đó vài tuần, trước khi thời tiết xấu ập đến, chúng tôi gặp nhà văn mà bà đại diện nghĩ có thể giúp chúng tôi chắp bút câu chuyện. Nghe thật hấp dẫn nhưng tôi không kỳ vọng sách sẽ bán được nhiều – đấy là nếu có bán được. Một cuốn sách dường như là một giấc mơ viển vông. Loại thành công đó không đến với người như tôi.

Tôi không hẹn gặp ông nhà văn nọ cho đến Năm Mới nên đã gần như quên hẳn chuyện đó. Đó là dấu hiệu cho thấy có thể mọi việc đang chuyển biến, rằng tương lai có thể sẽ sáng lạn hơn với tôi so với quãng thời gian dài trước đó. Tuy vậy, trong ngắn hạn, tôi biết nó sẽ không giúp tôi trả tiền gas và điện. Tương lai không phải thứ xa xỉ tôi có thể nghĩ về lúc này, tôi phải tập trung vào việc sống sót qua hiện tại – và vượt qua kỳ Giáng Sinh này cùng Bob. Tôi có cảm giác rất xấu về những điều đang chờ đợi phía trước, và hóa ra đó là cảm giác đúng…

[1] Nguyên văn: Transformers – đồ chơi mà James nhận được là dòng sản phẩm đầu tiên, đến nay vẫn có tính sưu tầm cao và được nhiều người săn lùng.

[2] Nguyên văn: International Date Line.

[3] Nguyên văn: Boxing Day – ngày 26 tháng Mười Hai hàng năm.

[4] Nguyên văn: Howdy folks.

[5] Nguyên văn: dressing gown – áo choàng mặc ở nhà, sau khi tắm để giữ ấm và làm khô cơ thể.

[6] Rèm trên máy bay dùng loại “khóa dán” Velcro.

[7] Nguyên văn: overground train.

[8] Nguyên văn: literary agent – người đại diện cho nhà văn và tác phẩm của họ khi đàm phán hợp đồng thương mại, tác quyền và các vấn đề liên quan.

Published by

Lưu Quang (流光)

Dịch sách dạo kiếm gạo nuôi mèo

Leave a Reply