Quà của Bob – Chương 3: Bíp Bíp Bíp

Mèo Bob giới thiệu sách tại hiệu Waterstone ở Coventry, tháng Mười 2014 – Ảnh: Coventry Telegraph

BẢN DỊCH THỬ
KHÔNG DÙNG CHO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI

VUI LÒNG CHỈ DẪN LINK
KHÔNG SAO CHÉP TOÀN VĂN

Tôi tỉnh giấc bởi âm thanh đã khiến tôi kinh hãi suốt nhiều ngày. Sáng thứ Hai rồi. Đã hết cuối tuần và khoản tiền điện khẩn cấp 5 Bảng mà chúng tôi nương tựa cuối cùng đã cạn.

Tôi biết tiếng bíp ấy sẽ lặp lại mỗi phút trong vòng hai mươi phút trước khi im hẳn. Mỗi lần sẽ có hai mươi tiếng bíp và mỗi tiếng cắt qua tôi như một cơn đau đầu vật vã. Thật khó chịu nhưng tôi chẳng thể làm gì, trừ khi nạp được lại tiền vào thẻ. Tôi nhảy khỏi giường và lục khắp các túi. Tôi chỉ còn vỏn vẹn 3 Bảng rưỡi, còn xa mới đủ để trả nợ trong thẻ. Tình thế rõ như ban ngày. Thế đấy. Chúng tôi chẳng còn lò sưởi hay đèn đóm gì nữa.

Bíp, bíp, bíp. Đồng hồ lại kêu.

Sáng hôm ấy lại xám xịt âm u và căn hộ đắm chìm trong bóng tối. Gian bếp tĩnh lặng, chỉ có ánh sáng nhấp nháy từ chiếc đồng hồ chạy pin chiếu rọi trong ảm đảm. Tôi mở cửa tủ lạnh rồi sờ những thứ bên trong. Chúng còn lạnh nhưng sẽ chẳng được lâu.

Tôi biết thời khắc này sẽ đến. Đồng hồ đâu có chạy tiếp bằng không khí. Nhưng tôi vẫn thấy nản. Đầu óc tôi đột nhiên quay cuồng. Tôi sẽ giữ được thức ăn trong bao lâu trước khi chúng hỏng? Tôi sẽ cần bao nhiêu tiền để nối lại điện? Tôi làm thế nào mà có đủ khí đốt và điện qua mùa Giáng Sinh? Bob và tôi sẽ xoay xở ra sao khi tôi chẳng kiếm ra tiền. Liệu chúng tôi có phải đến nơi cư trú hay trung tâm từ thiện mà đón Giáng Sinh không? Cái ý nghĩ ấy thật quá tồi tệ để mà trầm ngâm.

Bíp, bíp, bíp.

Hồi còn chìm sâu trong nghiện ngập, có lúc tôi đã chẳng thể nào xoay xở được với những khó khan như thế này. Đây là một thước đo để biết tôi đã thay đổi nhường nào, và tôi lập tức biết phải làm gì.

Gian nan làm cho đầu óc ta tỉnh táo theo một cách thật là kỳ quặc. Theo một cách nào đó thì nó giúp tôi đơn giản hóa cuộc sống. Trong trận tuyết gần đây, tôi đã có thể lựa chọn đi ra ngoài. Giờ thì tôi không còn tự do được như thế nữa. Tôi phải ra đường và kiếm đủ tiền để nối lại điện. Thực tế mà nói thì nếu tôi không làm thế trong vòng chín tiếng đồng hồ nữa thì đống đồ Giáng Sinh tôi tích trữ sẽ hỏng hết và sẽ phải đổ vào thùng rác. Đơn giản là tôi đâu thể để việc đó xảy ra.

Tôi ăn vội bát ngũ cốc với sữa còn thừa trong tủ lạnh. Tôi vẫn còn kha khá thức ăn cho Bob nên liền cho hắn một bát cá ngừ với chút nước. Thế rồi tôi rơi vào một kiểu trạng thái “bay tự động” và cứ thế nhặt nhạnh những gì cần thiết để ra ngoài – đàn ghi-ta, đống tạp chí Big Issue, áo khoác bán hàng. Tôi nhét thêm túi một ít thức ăn cho Bob và miếng bánh kẹp làm vội cho mình.

Tôi nhìn ra ngoài. Ít ra là hôm nay tuyết không rơi. Các mái nhà vẫn còn phủ một lớp bụi trắng, nhưng đã có xe hơi chạy rồi, nghĩa là nếu may mắn thì cũng sẽ có xe buýt.

Bíp, bíp, bíp.

Tôi tiến ra cửa và cảm thấy nhẹ nhõm vô cùng khi thoát được cái âm thanh đó, nhưng tôi mau chóng trải nghiệm một chuỗi cảm xúc khác. Tôi bước vào giá lạnh với một mớ hỗn độn quyết tâm, hoài nghi và nỗi hoảng loạn chậm rãi lớn dần.

Ở bến xe buýt cùng Bob, tôi lên kế hoạch hành động. Tôi làm vài phép tính đơn giản. Dòng kết quả là tôi phải có điện lại trong ngày hôm nay. Tôi đã phải tạt vào tiệm tạp hóa ngay góc phố để kiểm tra lại sao kê. Tôi cần trả 5 Bảng tiền vay khẩn cấp và thêm 6 Bảng rưỡi nữa để có được điều đó. Nghĩa là tôi cần ít nhất 11 Bảng rưỡi để đống đồ trong tủ lạnh không bị hỏng.

Tôi cũng đã kiểm tra thẻ khí đốt. Tôi đã nợ đến suýt soát 15 Bảng trên đó. Nghĩa là thực tế thì tôi phải trả khoảng 25 đến 30 Bảng để lại được sưởi ấm và có nước nóng và chỉ trong vài ngày thôi. Đấy là mục tiêu tối thiểu, nhưng xa hơn là mục tiêu tiếp theo, tìm ra cách để giữ đồng hồ chạy tiếp cho đến thứ Năm tới, ngày 23 tháng Mười Hai, ngày đầu tiên của lễ Giáng Sinh. Chỉ cần tôi có tiền trong thẻ, dù là tiền khẩn cấp, vào 6 giờ tối hôm ấy, là sẽ được đảm bảo có năng lượng qua Đêm Giáng Sinh, Ngày Giáng Sinh và Lễ Tặng Quà. Tuy nhiên, năng lượng sẽ lại bị cắt vào 9 giờ sáng ngày 27 tháng Mười Hai.

Dù vậy, tôi biết rằng để việc đó xảy ra chẳng phải là ý hay vì cơ hội để kiếm được ít tiền trong khoảng Giáng Sinh đến Năm Mới là khá thấp. Luân Đôn thực tế sẽ là thành phố ma trong giai đoạn ấy. Rồi còn phải tính đến thời tiết nữa. Nếu có thêm bão tuyết như Met Office dự báo thì sao? Tôi sẽ chịu rủi ro lớn nếu trông chờ kiếm được tiền trong tuần nghỉ lễ.

Không, đầu óc tôi không có chút nghi ngờ nào về việc đó. Mục tiêu tối thượng là vượt qua được hai tuần sắp tới. Tôi phải ra phố và kiếm đủ tiền để thôi lo nghĩ về khí đốt và điện cho đến Năm Mới.

Dĩ nhiên, hóa đơn năng lượng không phải là thứ duy nhất khiến tôi phải chiến đấu trong những ngày tới. Còn phải tính cả tiền thuê nhà, tiền đi lại và cả Bob nữa. Thế là trong lúc ngồi trên tầng hai chiếc xe buýt đi lên phố, tôi nghuệch ngoạc một loạt những con số lên mặt sau một chiếc phong bì. Cộng hết mọi thứ lại, tôi tính mình cần kiếm được cả thảy 150 Bảng. Và tôi phải kiếm được chừng ấy tiền trong vòng hai hay ba ngày tới. Đó là một nhiệm vụ rất, rất gian nan. Nhưng tôi phải tìm ra cách nào đó.

Lựa chọn đầu tiên của tôi là tăng nguồn thu chính của mình bằng cách bán tờ Big Issue ở điểm bán bên ngoài ga Angel ở Islington. Rất ít người hiểu cơ chế của việc này. Đây không phải là tờ tạp chí “miễn phí” mà những người vô gia cư bán để kiếm lấy vài đồng. Chương trình thiện nguyện này được lập ra để “giúp mọi người tự giúp mình”, nên thực tế là những người bán tạp chí quản lý việc kinh doanh của chính mình. Chúng tôi phải mua thêm tạp chí với giá nhất định, rồi bán lại với giá bìa, từ đó kiếm lời cho mình – và hy vọng là đủ tiền nuôi thân.

Số tạp chí mừng Giáng Sinh được bán với giá 2 Bảng và tôi phải mua mỗi cuốn giá 1 Bảng, nghĩa là tôi được lãi ròng 1 Bảng mỗi cuốn bán ra. Cân nhắc tình cảnh của mình, tôi hiểu mình sẽ phải bán hàng chục hàng trăm cuốn tạp chí trong mấy ngày tới. Chuyện ấy đơn giản sẽ không xảy ra.

Bob và tôi đã xây dựng được một tập hợp những người ủng hộ đông đảo và trung thành ở ga Angel. Trước khi chúng tôi đến đó, tôi được nguồn đáng tin cậy cho biết điểm bán hàng của chúng tôi bên ngoài nhà ga là một chỗ vắng như chùa bà đanh, không hợp với người bán tờ Big Issue. Chúng tôi đã gặt hái thành công. Rất nhiều người đi qua đã dừng lại nói chuyện với chúng tôi và rất nhiều khác hàng đã mua tạp chí từ chúng tôi tuần này qua tuần khác. Nhưng ngay cả như thế thì tôi nghĩ thành tích tốt nhất tôi từng đạt được trong một ngày là ba mươi cuốn tạp chí. Mức trung bình là trên mười lăm dưới hai mươi cuốn. Nếu muốn cứu lấy lễ Giáng Sinh thì tôi phải bổ sung bằng thu nhập khác. Nguồn rõ ràng nhất là hát rong, và tôi biết đó là một lựa chọn. Bob với tôi đã kiếm khá tốt khi còn hát rong quanh khu Covent Garden, nơi chúng tôi cũng có một nhóm những người cho tiền thường xuyên. Tôi sẽ phải tăng ca để làm việc đó trong mấy ngày tới. Chẳng phải nhiệm vụ bất khả thi, nhưng sẽ gian nan, tôi biết.

Tôi không bi quan mà chỉ thực tế. Tôi đã kiếm sống trên đường phố qua quá nhiều lễ Giáng Sinh nên tôi biết mọi người đều không dư dả vào thời điểm này trong năm. Và vì tiền không có nhiều nên lẽ tự nhiên là cạnh tranh trở nên khốc liệt hơn nữa giữa những người hát rong, trình diễn, ăn xin hay bán Big Issue. Việc đang có suy thoái kinh tế lại càng tăng thêm cảm giác rằng ai cũng phải vì mình. Thật sự là ai thích nghi nhất mới tồn tại được nên tôi phải thích nghi được trong mấy ngày tới. Bằng không thì các kế hoạch Giáng Sinh của tôi sẽ không sống sót. Giá mà mọi việc đơn giản thế.

Tôi đến Angel và nhận ra chỗ đó náo nhiệt các hoạt động, nhưng không phải theo cách tốt cho tôi. Sảnh chờ trong ga đông nghịt những người quyên góp thiện nguyện, hay còn được gọi là “thiện tặc” vì cách họ làm phiền mọi người thường đến mức khiến người ta cảm giác mình bị cướp. Dĩ nhiên là hầu hết những người quyên tiền này làm việc cho các tổ chức thiện nguyện hợp pháp như Greenpeace hay Save the Children hoặc Cancer Research, vốn là những tổ chức làm những việc quan trọng, nên tôi chưa từng có vấn đề gì với những người ấy. Họ có nhiều quyền được ở trên phố như tôi có.

Vấn đề là ngoài kia còn vô vàn những tổ chức “thiện nguyện” kém chu đáo hơn. Rất nhiều trong số đó dùng những người trẻ tuổi hoặc người dễ tổn thương làm mồi nhử và đẩy họ ra vung vẩy những hòm từ thiện vào mặt người khác nhiều giờ liền, rồi trả họ khoản thù lao bèo bọt. Tôi đã từng thấy nhiều nhóm những người đó bị cảnh sát xua đi trước đây. Có dịp nọ tôi thấy cảnh sát kiểm tra chốt và phát hiện các hòm từ thiện không được niêm phong như cần thiết để đảm bảo tiền được chuyển trực tiếp đến tổ chức thiện nguyện. Lần khác họ lại phát hiện giấy phép mà những người này trưng ra được “cắt dán” trên Photoshop. Những người đó chẳng được chính quyền sở tại hay Transport for London, công ty điều hành hệ thống tàu điện ngầm, cấp phép. Họ chỉ là lũ cơ hội đang kiếm tiền cho riêng mình.

Chẳng cần phải nói cũng biết những người quyên tiền này không có khái niệm thực sự nào về việc còn ai khác đang làm việc trong khu vực và quy định ra sao. Và họ tuyệt đối không thèm để ý đến những người khác, những người đang nỗ lực kiếm miếng ăn một cách chân chính.

Tôi khá nhanh chóng nhận ra rằng những người trong nhà ga hôm nay là từ một trong số những tổ chức thiện nguyện đáng ngờ. Từ trước đến giờ tôi chưa từng nghe tên họ. Họ khẳng định là đang quyên tiền cho cái Quỹ Chống nghèo Thế giới thứ ba lạ hoắc nào đó. Những tấm thẻ họ đeo cong queo tơi tả; mọi thứ đều trông khả nghi. Tôi chẳng làm được gì vì dường như họ có giấy phép hoạt động trong ga, vì vậy tất cả những gì tôi có thể làm là hy vọng cảnh sát cộng đồng hoặc ai khác sẽ kiểm tra họ và đuổi đi nếu họ gian trá. Chuyện đó thì đã rõ. Tôi có một điểm bán hàng hợp pháp ngoài nhà ga, nhưng tôi không thể vào bên trong để bán tạp chí. Họ thì được tự do hoạt động bên trong ga.

Mặt trái của việc này là, theo quan điểm của tôi, các thiện tặc đã tiếp cận hành khách từ tàu điện ngầm đi ra trước tôi. Đó là tin xấu. Và chẳng bao lâu chuyện còn thành ra tệ hơn.

Khi tối đến, đám thiện tặc và những thùng quyên góp của họ tràn cả ra lối đi bộ bên ngoài nhà ga. Trước khi tôi kịp nhận ra thì đã có cả nửa tá bọn họ phủ khắp các cửa ra và tiếp cận bất kỳ ai đi ra.

Tôi không phải người duy nhất thấy khó chịu. Điểm bán hàng của tôi đối diện với một quầy bán hoa và một sạp báo. Chủ tiệm đang cáu gắt việc đám người này độc chiếm khu vực quanh lối vào ga. Họ không chỉ cướp mất số tiền lẻ đáng lẽ được dành để mua cuốn tạp chí, bó hoa hồng hay một bản Big Issue, mà còn khiến người ta bỏ đi. Họ khiến mọi người thấy không thoải mái.

Tôi nhìn dòng hành khách tràn ra từ nhà ga, đầu cúi gằm, không muốn chạm mắt với những thiện tặc, và xa hơn là với bất kỳ ai. Tôi có nỗ lực đến đâu để cất giọng cao hơn tiếng ồn của những thùng tiền và đám người mang chúng cũng vô ích. Tôi chỉ là một tiếng nói khác. Chẳng ai nghe thấy tôi cả.

Bob càng ngày càng kích động. Hắn có thể chịu được gần như mọi tiếng ồn mà Luân Đôn ném vào hắn, nhưng tiếng những chiếc thùng bị xóc lên khiến hắn bồn chồn. Hắn cuộn thành một trái bóng và nheo mắt lại, đó là dấu hiệu chắc chắn cho thấy hắn không hài lòng. Có lúc hắn phì phì một thiện tặc đến quá gần. Cảm giác thất vọng trong tôi cũng dâng lên. Tôi đã xoay xở bán được hai bản tạp chí trong gần một tiếng rưỡi. Với tốc độ ấy thì tôi chẳng thể nào kiếm đủ tiền để về nhà chứ chưa nói đến chuyện nối lại điện và khí đốt.

Tôi đã rơi vào tình cảnh này đủ thường xuyên để biết sẽ có chuyện và quả đúng thế thật.

Chúng tôi đang bán dở cuốn tạ chí cho một khách hàng quen thuộc thì một trong số các thiện tặc bắt đầu lấn vào không gian của tôi. Gã ta cao lớn, chừng sáu bộ và nặng chừng mười tám thạch Anh và mặc một chiếc áo khoác phản quan mà vàng rất chói. Gã đi ra từ nhà ga và tiến về phía tôi với Bob, vung vẩy thùng quyên tiền một cách khoa trương. Mỗi lúc gã lại tiến gần hơn.

“Này anh, cho chúng tôi chút không gian với,” tôi nói, lịch sự hết sức có thể khi gã chỉ còn cách đôi ba bước chân.

Lời gã đáp lại kém lịch sự hơn.

“Mày có vấn đề gì nào? Tao có nhiều quyền để được ở đây bằng mày đấy,” gã nói, vừa dí cái thẻ ép của gã vào mặt tôi.

Tôi ném cho gã một cái nhìn khinh bỉ nhưng cũng nhắc bản thân không làm gì ngu ngốc.

Tôi nhìn xuống và thấy Bob đang xoắn vào khoảng không tý tẹo giữa hai chân tôi. Thực tế là hắn đã bị dồn vào góc; trông hắn thật mong manh. Tôi vừa định cúi xuống bế hắn lên thì gã thiện tặc sấn tới chúng tôi và đạp chân vào cái ba-lô Bob đang ngồi.

Méooooo. Bob ré lên một tiếng lớn.

“Ối anh bạn, lùi lại đi. Anh vừa dẫm lên mèo của tôi rồi,’ tôi nói, vừa tỳ vào gã.

Gã chỉ nhìn xuống Bob và chế nhạo.

“Thế nhưng mà cái con vật khốn kiếp này làm gì ở đây vậy?”

Chính thế, tôi nổi khùng. Tôi xô gã ra, còn gã thì quay lại đối mặt với tôi. Chúng tôi to tiếng chút ít nhưng trước khi mọi chuyện vượt ra khỏi tầm kiểm soát thì một sĩ quan cảnh sát cộng đồng đã xuất hiện và tách chúng tôi ra. Tôi nhận ra vì anh ta thường xuyên tuần tra khu vực này.

“Thôi nào hai người,” anh nói. “Có chuyện gì thế?”

Công bằng mà nói về viên cảnh sát thì anh ta hiểu vấn đề. Anh ta bảo gã kia về đúng chỗ được chỉ định, và gã làm theo, dù rất không hài lòng. Bộ dạng gã trông khá khó chịu và gã cứ lườm tôi suốt từ phía trong sảnh chờ. Tôi nhận thấy gã có thể sẽ gây thêm chuyện khi viên cảnh sát đi khỏi nên đã quyết định; đây chẳng phải chỗ cho Bob, chúng tôi phải đến chỗ nào khác. Tôi thu dọn đồ đạc và lẻn vào trong ga theo một lối vào khác. Lúc gã phát hiện ra thì chúng tôi đã qua cửa soát vé và đến được thang cuốn đi xuống rồi.

Tôi quyết định đến Covent Garden, nơi tôi vẫn có thể mua thêm vài cuốn tạp chí, hoặc nếu không được thì hát rong một đôi giờ đồng hồ. Chẳng lý gì để đã về nhà ngay. Theo như tôi biết thì thời tiết có thể sẽ còn tệ hơn và tôi có thể sẽ bị giam trong nhà cả tháng. Tôi phải tận dụng cơ hội.

Chúng tôi đi tàu điện ngầm chủ yếu để được ấm. Bob thu hút nhiều ánh nhìn ngưỡng mộ như thường lệ, nhưng cũng tránh khỏi có cả những mỉa mai chế nhạo.

“Anh đang làm gì với sinh linh tội nghiệp này thế?” một quý bà lớn tuổi nói với tôi.

“Hắn ổn, thưa bà, xin đừng lo về hắn,” tôi nói nhưng không xoa dịu được bà ấy, và bà bắt đầu lên lớp tôi.

Tôi đã gặp chuyện tranh cãi này hàng nghìn lần rồi. Bob đã chọn tôi chứ không phải ngược lại. Hắn có thể bỏ tôi đi bất kỳ lúc nào, hắn có thừa cơ hội. Nhưng hắn không làm thế, hắn muốn ở bên tôi hơn. Đó là lựa chọn của hắn. Tuy nhiên, lần này thì tôi đơn giản đã quá mệt, quá lạnh và quá lo lắng về Giáng Sinh để mà lưu tâm. Tôi xuống tàu luôn ở bến sau, đi xuống tầng rồi lại lên, vào một toa yên tĩnh hơn, nơi may sao chúng tôi được yên.

Tôi không muốn gặp rắc rối vì lại bán tờ Big Issue không tại điểm bán được cấp phép của mình, nên tôi lên kế hoạch nói chuyện với Sam, người điều phối thường xuyên của tờ Big Issue tại Covent Garden, để chắc chắn là sẽ không sao. Không may thay là chẳng thấy chị đâu, tôi không còn lựa chọn nào khác ngoài việc lấy cây ghi-ta ra và hát rong một lúc. Tôi tìm được một chỗ gần Phố James, bên ngoài quảng trường, nơi tôi từng hát nhiều năm trước.

Hát rong trong buốt giá chưa bao giờ là dễ cả. Cái lạnh có thể gây hại cho đàn ghi-ta, làm cong cần đàn nên phải lên dây liên tục. Đôi khi trời lạnh đến mức đứt cả dây đàn. Tuy vậy, khi tôi bắt đầu gẩy thì vấn đề lớn nhất lại là các ngón tay. Tôi đeo đôi găng không ngón màu đen được một khách hàng thường xuyên tặng. Chị thấy tôi cứ xoa tay liên tục nên đã chạy vội đi mua. Nhưng ngay cả đôi găng cũng không bảo vệ được tôi khỏi tác hại của cái lạnh. Các ngón tay tôi bỏng rát khi gẩy dây đàn kim loại. Mà tiếng nhạc cũng chẳng hay. Mọi thứ đều có vẻ nửa vời.

Và như thể còn chưa đủ tệ, người ta hầu như không nghe thấy tôi. Khu vực này chật nhích những nghệ sĩ đường phố. Một mớ hỗn độn tiếng ồn từ người hát rong, những anh hề xiếc và cả các nhân tượng ganh đua để mình được nghe thấy. Ồn đến mức tôi phải có bộ tăng âm thì mới khiến mọi người biết mình hiện diện được.

Tôi quyết định đi chỗ khác, xuôi theo Phố Neal. Yên tĩnh hơn nhưng ít nhất là tôi có cơ hội để được nghe thấy.

Lúc sắp xếp lại đồ, tôi lần tay qua túi và xem tiến độ trong ngày thế nào rồi. Chẳng phải tin tốt lành. Tôi đã ở ngoài đường đến gần năm giờ đồng hồ nhưng mới chỉ kiếm được có 10 Bảng. Thật đáng thất vọng.

Phố Neal có khá hơn một chút.

Bầu không khí hơi lạ lùng. Một vài cửa hiệu rất tấp nập. Nhất là một hiệu thời trang bán áo khoác parka kiểu Mỹ cổ điển đông nghịt những người trẻ, có lẽ khách du lịch, những người chẳng mặc cả với thời tiết và dường như mua vài món trang phục mùa đông hợp mốt. Ở Phố Monmouth, quán cà-phê nổi tiếng có dòng người xếp hàng tràn cả xuống đường. Nhưng rất nhiều cửa hiệu, tiệm rượu và quán ăn khác đã đóng cửa. Nhiều phần của con phố đã bị bỏ trống. Có vẻ hơi siêu thực.

Chúng tôi đứng ở gần cửa hiệu áo parka. Vài người qua đường dừng bước để chào Bob và chụp ảnh. Hắn lúc nào cũng ăn ảnh. Tôi nhanh chóng nhặt nhạnh được mấy đồng nhưng rõ rang hôm nay sẽ là một ngày khốn khó.

Trong một khoảnh khắc, tâm trí tôi quay lại thời điểm những ngày đầu bên Bob, khi một anh chàng nọ bất ngờ thả 200 Bảng vào tay tôi. Chuyện hoàn toàn bất ngờ. Anh ta trông còn chẳng có vẻ là giàu có. Anh mặc áo khoác da và quần bò. Anh ta rút ra vài tờ bạc và thả vào túi áo trên cùng của áo khoác tôi với một câu vội vàng, “của anh đây, chàng trai.” Tôi nghĩ là mấy tờ bạc 5 Bảng nhưng hóa ra là bốn tờ 50 Bảng. Tôi hoàn toàn sốc và đi tìm anh chàng, nhưng anh ta đã biến mất trong đám đông. Tôi đoán anh ta là nhạc sĩ hay diễn viên. Đáng ra tôi phải nhận ra anh ta, nhưng tôi chịu.

“Ôi, vì một món 200 Bảng hôm nay nhé Bob,” tôi nói.

Gã trai nào mà chẳng mộng mơ.

Gió thường thổi dọc phố Neal lúc cuối chiều và rõ ràng là đã phải ngồi trong giá rét đủ rồi.

“Đi thôi anh bạn, hôm nay thế thôi,” tôi nói.

Chúng tôi đang thu dọn thì nghe có tiếng nói.

“James, đợi đã. Đợi tôi với.”

Đang chạy tới chỗ chúng tôi là một quý bà trung niên, Jane, người đã giúp đỡ chúng trong nhiều năm qua. Bà hơi bị hụt hơi.

“Ôi, tôi tìm hai cậu khắp nơi. Tìm được hai cậu tôi mừng quá.”

Bà đưa tôi một chiếc túi trông rất sang trọng. Phải mất một lúc tôi mới biết nó là cái gì. Trong túi là một chiếc mũ màu đỏ tươi với chiếc chuông trên chóp cùng một chiếc áo khoác nhỏ màu đỏ có viền chỉ trắng.

“Ôi chao, là bộ đồ Ông Mèo Tuyết cho Bob,” tôi nói.

“Tôi thấy nó trong một cửa hiệu hôm trước và không cầm lòng nổi.”

Vài năm trước Belle từng làm cho Bob một bộ đồ gần giống thế này. Cô ấy tự may lấy bằng máy may, nhưng bộ đồ bị mất lâu rồi. Bộ này thì thực sự chất lượng rất tốt; Jane chắc đã phải tốn nhiều tiền.

Tôi thấy thật tồi tệ. Một phần trong tôi thấy biết ơn vì có người đã vất vả để có được món quà sâu sắc thế. Nhưng phần khác của tôi lại tự hỏi chính xác ra thì việc này sẽ giúp tôi sưởi ấm căn hộ của mình và nuôi thân cùng với Bob thế nào qua lễ Giáng Sinh đây.

Bà nán lại trò chuyện với chúng tôi trong chốc lát rồi đưa cho tôi một tấm thiệp Giáng Sinh.

“Nếu cậu cần bất cứ điều gì thì cứ cho tôi biết,” bà nói. “Số điện thoại của tôi ở trong thiếp.”

Tôi xấu hổ đến mức không dám nói cho bà biết tôi chưa nạp tiền cho chiếc điện thoại di động tả tơi của mình từ nửa tháng nay rồi, và không có mấy khả năng tôi sẽ nạp trong ít lâu nữa.

Khi Jane quay gót về phía Covent Garden, tôi mở thiếp. Tôi vui mừng thấy 10 Bảng bên trong. Ngay lập tức tôi thấy có lỗi vì những ý nghĩ thiếu trân trọng lúc nãy. Tôi muốn quay lại Covent Garden để tìm Jane và nói lời cảm ơn, nhưng tôi biết bà đi xa rồi.

Chúng tôi về Đường Tottenham Court qua ngả Seven Dials. Không còn nghi ngờ gì việc Giáng Sinh đã cận kề. Tôi ngắm nhìn một hàng các gia đình đang tiến vào nhà hát ở góc phố, một vài người bế em bé trên tay. Nó nhắc tôi nhớ lại trải nghiệm duy nhất của mình với sân khấu vào lễ Giáng Sinh.

Một dàn hợp xướng nhà trường đang hát ở một góc khác, một đám đông nho nhỏ các vị phụ huynh và bạn bè đang cổ vũ các em hát trong cái lạnh thấu xương của lúc cuối chiều. Tôi nhận ra giai điệu của khúc ca các em đang hát ngay lập tức; là khúc “Vua Wenceslas nhân từ”.

Tôi không thể không lắc đầu trước sự mỉa mai. Lời hát kể chuyện một vị vua già tốt bụng giúp đỡ một “người đàn ông nghèo” đang “nhặt nhạnh chất đốt cho mùa đông” mà vị vua thấy thương cảm.

“Hừm, nghe quen thế Bob nhỉ,” tôi nói, vừa xoa đầu Bob vừa đi về phía Đường Tottenham Court.

Theo một cách nào đó thì lời khúc hát đáng ra thật an ủi. Tôi đâu phải người đầu tiên, cũng chẳng phải người cuối cùng, chật vật lúc Giáng Sinh. Nhưng tôi thấy thật khó mà khuây khỏa được.

Trên xe buýt, tôi đếm lại số tiền mình đã kiếm được hôm nay. Tính cả món quà hào phóng vào phút cuối của Jane thì tôi chỉ có vừa hơn 25 Bảng. Chừng ấy đủ để tôi nối lại điện và mua được ít sữa, bánh mì và vài thứ lặt vặt ở cửa hàng chỗ góc phố, nhưng không hơn. Khí đốt – cùng với lần tắm vòi sen nóng đầu tiên trong một tuần lễ – sẽ phải đợi đến một ngày khác. Tôi đã sống sót qua những lần tắm nước lạnh đến bây giờ. Thêm một lần nữa cũng không chết được.

Tôi về đến nhà, mệt mỏi, rối bời và hơi lo lắng về những việc có thể xảy ra tuần sau. Mục tiêu dài hạn 150 Bảng dường như là viễn cảnh xa xôi. Tôi sợ mình sẽ lại đón Giáng Sinh trong âu lo, chạy tới chạy lui qua tệm tạp hóa để sưởi ấm căn hộ mỗi khi xoay xở kiếm được vài đồng.

Nhiệt độ dường như giảm từng ngày. Khi một cơn gió cắt qua chúng tôi, tôi cảm thấy Bob cuộn chặt thêm quanh cổ mình, đầu hắn gần như vùi vào cổ áo khoác tôi.

“Xin lỗi Bob nhé, nhưng tớ nghĩ cậu sẽ phải quen với việc này thôi. Sẽ là một Giáng Sinh dài rét mướt đấy,” tôi nói khi chúng tôi về đến căn hộ vẫn còn lạnh buốt.

Tối hôm ấy chúng tôi nằm trên sô-pha, ủ ấm cho nhau dưới không chỉ một mà hai tấm chăn.

Published by

Lưu Quang (流光)

Dịch sách dạo kiếm gạo nuôi mèo

Leave a Reply