Quà của Bob – Chương 4: Phép màu trên Phố Upper

Mèo Bob giới thiệu sách tại hiệu Waterstone ở Coventry, tháng Mười 2014 – Ảnh: Coventry Telegraph

BẢN DỊCH THỬ MỪNG GIÁNG SINH 2017
KHÔNG DÙNG CHO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI

VUI LÒNG CHỈ DẪN LINK
KHÔNG SAO CHÉP TOÀN VĂN

Trí khôn của Bob chẳng bao giờ ngừng khiến tôi ngạc nhiên, nhất là khi nói đến cách hắn đánh thức tôi mỗi sáng.

Tôi là một con sâu ngủ; nhiều lúc có bom nổ xung quanh tôi cũng không nhúc nhích. Bởi vậy, Bob đã trở thành bậc thầy trong việc tìm ra những cách thức hay ho để dựng tôi dậy.

Một trong các kỹ thuật của hắn là đặt chân trước lên đệm sao cho có thể nhìn thẳng vào mắt tôi rồi gào lên oaaauu-oaaa thật to khi đang nhìn tôi như thế. Dù chưa biết chắc được nhưng tôi tin rằng có vài dịp hắn đã dùng cách khác, đó là ném món đồ chơi yêu thích của hắn, một con chuột đan bằng len, lên gối tôi. Tôi thức dậy và thấy nó chỉ cách mũi mình chừng một tấc. Chẳng có lời giải thích nào khác cho việc con chuột nằm ở đó cả.

Tuy vậy, hôm nay thì hắn lại sử dụng một cách khác; hắn trườn vào cạnh tôi, đặt đầu hắn sát vào đầu tôi rồi bắt đầu rên rừ rừ rõ to vào tai tôi. Tôi chắc chắn phải ngủ khá sâu vì khi tôi bắt đầu tỉnh dần thì tôi chưa nhận ra đó là tiếng gì. Tiếng kêu dữ dội đến mức trong một khoảnh khắc ngỡ ngàng tôi tưởng là có một công nhân đang làm việc với máy khoan khí nén ở ngoài hành lang. Nó làm tôi ngồi bật dậy trên giường.

Tôi chẳng bao giờ có thể tức giận vì hắn làm thế. Giận làm sao được? Gương mặt bảnh trai của hắn là thứ đầu tiên tôi thấy mỗi sáng, việc đó là cả một đặc ân. Kể cả nếu, như hôm nay chẳng hạn, gương mặt ấy mang một biểu cảm nói rằng, dậy đi đồ lười. Đáng lẽ tôi phải ăn sáng từ nửa giờ trước rồi.

Sau khi nạp tiền điện vào đêm hôm trước, tôi tự thưởng cho mình một giấc ngủ nướng xứng đáng. Thật nhẽ nhõm khi không phải thức dậy theo bản năng vào lúc 9 giờ sáng và nằm đó trong im lặng, chờ chiếc máy đo phán quyết số phận mình.

Lúc tôi cuối cùng cũng chịu dậy thì đã quá 10 giờ sáng từ lâu. Cái lạnh thật khó chịu khi tôi trườn ra khỏi giường. Nhiệt độ chắc phải dưới không nhiều. Khi bước vào phòng khách, tôi hơi kỳ vọng sẽ nhìn thấy các nhũ băng đóng trên trần. Tôi đứng run rẩy trong bếp trong lúc làm bữa sáng cho Bob và đun nước để pha tách trà. Tôi vẫn quyết tâm ra ngoài hôm nay. Hôm qua đã rất khó khăn nhưng tôi đơn giản là không thể để cho việc đó làm mình nhụt chí.

Tôi bật ti-vi lên và lập tức ước gì mình không làm thế. Bản tin đang cung cấp dự báo thời tiết. Chẳng phải tin tốt. Toàn bộ bản đồ chi chít biểu tượng bông tuyết; tuyết sẽ rơi nhiều thêm.

“Tuyệt vời chưa,” tôi thở dài với chính mình. “Đúng thứ mình cần luôn.”

Bất hạnh là tôi biết chẳng còn lựa chọn nào khác. Tôi phải ra ngoài đó lần nữa, dù chỉ là vài tiếng đồng hồ.

Như thường lệ, tôi cho Bob lựa chọn ở nhà. Hắn đã thực hành cái quyền được ở nhà vài lần trong mấy tuần qua, cũng được thôi. Không phải nói cũng biết tôi kiếm tốt hơn khi có hắn ở bên. Không có hắn thì tôi lại trở thành một con người đường phố vô hình khác. Nhưng tôi luôn luôn hiểu rằng mình chẳng phải chủ của hắn. Chẳng con người nào “sở hữu” con mèo cả. Hắn được tự do làm gì tùy thích nên khi hắn nằm ì ra ở cạnh máy sưởi hay gần đây hơn là trên sô-pha thì tôi tôn trọng mong muốn của hắn và để hắn được yên. Tuy vậy, hôm nay thì hắn tiến về phía cửa ngay khi thấy tôi gói gém đàn ghi-ta và ba-lô.

“OK anh bạn, hôm nay sẽ lại rét lắm đấy, có vẻ thế,” tôi nói.

Tôi vớ bộ đồ Ông Mèo Tuyết và mặc cho hắn. Trông rất dễ thương, tôi phải thừa nhận thế, và cũng có lợi là nó cho hắn thêm một lớp áo, thế là lợi hại gấp đôi. Tôi cũng cất vào túi một trong những chiếc khăn quàng dầy nhất của hắn để đề phòng.

Bầu trời mang màu xám chì và gió lạnh dưới không độ quất thẳng tới khi chúng tôi bước xuôi con phố vẫn còn băng giá để đến trạm xe buýt.

Xe gần như trống nên chúng tôi xoay xở lấy được chỗ ngồi yêu thích ở phía trước tầng trên. Bob thích ngồi ở đó để nhìn thế giới lướt qua. Tôi thì lo lắng chuyện thời tiết hơn và cứ nhìn bầu trời âm u đáng sợ suốt.  Tôi chẳng phải nhà khí tượng, nhưng có vẻ khá rõ ràng là thời tiết đang xấu dần và có gì đó rất tệ sắp xảy ra. Tôi cứ hy vọng tuyết đến cuối ngày mới rơi, tốt nhất là vào ban đêm, nhưng tôi có cảm giác nó ở gần hơn thế nhiều. Bản năng của tôi sớm được chứng minh là đúng.

Chúng tôi mới đi được nửa đường đến ga tàu ở Đường Essex thì bông tuyết đầu tiên xuất hiện. Chứng kiến sự biến chuyển đó thật là tuyệt vời. Đột nhiên cả thế giới trông như bên trong một quả cầu tuyết Giáng Sinh chứa đầy những cùi dừa khô mà bạn lắc để tạo ra trận mưa tuyết. Vừa lúc trước tôi có thể nhìn rõ bên ngoài từ cửa kính tầng trên. Liền sau đó tấm kính phủ đầy tuyết trắng ngà và tôi không còn thấy gì cả.

Chẳng mất nhiều thời gian để giao thông ùn lại và trong vòng ít phút, xe buýt dừng hẳn. Qua cửa sổ hông, tôi thấy xe cộ trượt lung tung trên đường và sớm nhận ra là có tai nạn phía trước. Lái xe thông báo và xin lỗi rằng chúng tôi sẽ phải đợi vụ tai nạn được giải quyết.

Tôi quyết định ngay.

“Đi thôi Bob, mình đi bộ đoạn cuối.”

Biết trước sẽ có tuyết rơi, tôi đã mang theo một túi ni-lông có lỗ thủng để hắn chui đầu qua. Tôi từng làm việc tương tự trước đây rồi, khi trận tuyết đầu mùa đến hồi cách đây chừng một tháng, tôi đã dùng tạm một chiếc túi ni-lông mua ở sạp báo. Nó khá tốt nên tôi tạo thành thói quen luôn luôn mang theo túi ni-lông siêu thị bên mình, để đề phòng. Tôi nhồi hắn vào cái áo khoác tự chế và xuống xe.

Bình thường thì mất chừng hai mươi phút đi bộ để đến được Angel nhưng tuyết dầy đến mức tôi tính phải tốn gấp đôi thời gian. Chúng tôi còn phải dừng vài lần để sưởi ấm. Có một vài chỗ tôi biết, mà không như những nơi khác, nơi người ta vui vẻ để tôi vào cùng Bob.

Đó là kế hoạch trong trường hợp có chuyện. Và chẳng bao lâu thì có chuyện thật.

Tuyết vẫn rơi dày và đang đóng dần trên những đồ vật cứng bị bỏ ngoài trời từ khoảng một tuần nay. Việc đi lại trở nên rất khó khăn, nhất là khi Bob cứ bồn chồn đòi xuống. Hắn thích đi trên tuyết và đang nóng lòng được chạy quanh.

“Không được, Bob, ở yên đó đi anh bạn,” tôi nói mấy lần, vừa đặt một tay lên lưng hắn để giữ hắn ở nguyên vị trí.

Hắn không vui lắm nhưng cũng hiểu lời tôi.

Tôi vừa mới giữ hắn thì bị phân tâm vì mấy đứa trẻ con đang chơi ném tuyết. Lũ trẻ thì vô tư nhưng tôi không muốn chúng ném một cục tuyết vào tôi khi có Bob đang ngồi trên vai. Việc đó làm tôi mất tập trung.

Tôi quá chú tâm xem lũ trẻ ném tuyết vào chỗ nào đến mức không nhìn xem mình sắp bước đi đâu. Có một mảng băng trên mặt đường ngay trước tôi. Khoảnh khắc ủng tôi chạm vào nó, chân tôi liền trượt văng lên.

“Ốooooi”

“Eeeeeeo”

Chúng tôi cùng hét lên.

May thay, Bob là mèo nên đã trở được mình và đáp xuống an toàn trên bốn chân. Tôi không may mắn như vậy. Tôi ngã đập lưng xuống mạnh và rất đau.

Tôi nằm trên tuyết, rên rỉ trong cơn đau đớn suốt một quãng tưởng chừng mấy phút. Bob lập tức đến bên tôi. Đầu tiên hắn nhìn tôi như để đánh giá tình hình.

“Cậu vừa làm gì thế này?” biểu cảm của hắn dường như nói vậy.

Nhưng hắn sớm nhận ra rằng tôi bị đau thật. Hắn bắt đầu hít hà quanh tôi và đặt bàn chân hắn lên cẳng chân tôi, như thể hắn biết chỗ đó bị đau, mà đúng thế.

Khi tôi định thần xem vừa có chuyện gì, tôi nhận ra rằng mình thực ra đã may mắn. May là tôi có chiếc ghi-ta và ba-lô trên lưng và chúng đã bảo vệ đầu tôi khi ngã về sau. Nếu không có chúng thì tôi có thể đã gặp rắc rối to. Tôi có thể đã ngất đi – hoặc tệ hơn.

Đó là tin tốt. Còn tin xấu là cây ghi-ta đã đập rất mạnh xuống đất.

Lòng tôi chùng ngay xuống.

Tôi gượng dậy và đi vào cửa một tòa nhà văn phòng, ở đó tôi quỳ xuống và mở túi đựng đàn. Điều tôi lo sợ nhất được xác nhận. Cây ghi-ta có từ những ngày tôi còn trong ban nhạc Hyper Fury, quãng năm 2002. Tôi mua nó từ một tay người Tây Ban Nha tôi quen tên là Picha, giá 50 Bảng. Chiếc ghi-ta mộc[1] hiệu Kimbara sơn đen, dây thép và có viền đỏ. Nó cũng đã khá trầy trụa xác xơ rồi. Hồi tôi còn hát rong, nó đã bị va đập nhiều trên xe buýt và trên tàu điện ngầm vì mọi người cứ đâm sầm vào nó. Tôi thậm chí từng phải dán băng dính mấy lần. Tuy vậy, lần này thì hư hại trông nghiêm trọng chưa từng thấy. Vì tôi ngã như thế nên phần đáy đàn đã chịu hết lực và mặt trước đã bung ra.

Giờ thì hoàn toàn không thể đánh được nữa.

Tôi đau đớn. Tôi đang trong cảnh cùng quẫn và đàn ghi-ta là một trong hai thứ có thể giúp tôi thoát ra. Giờ thì nó hỏng rồi. Tôi sẽ làm thế quái nào đây? Đời sẽ ném tiếp thứ gì vào tôi nữa đây?

Bob xưa nay luôn luôn thính nhạy với tâm trạng tôi và ngay lập tức nhận ra rằng tôi đang đau khổ. Khi tôi đang ngồi ở lối vào tòa nhà, hắn nhảy lên lòng tôi và vùi đầu vào khoảng trống dưới cằm tôi, cọ vào cổ tôi mà rên khe khẽ. Như thể hắn muốn nói, “Đừng lo bạn ơi, tụi mình sẽ OK mà.” Hắn biết cách giúp tôi thấy ổn hơn. Tôi ngồi đó vài phút, cố lấy lại tinh thần và sức lực.

“OK, cậu đúng, bạn ạ. Tớ còn trụ được. Đi tiếp nào,” sau một hồi, tôi nói.

Tôi không có lựa chọn. Tôi phải tiến lên.

May sao tuyết đã ngớt một chút và ít phút sau đó tôi đã tập tễnh lê bước đến được Angel. Tâm trạng tôi không khá lên mấy khi chúng tôi đến điểm bán tạp chí của mình. Cởi “áo khoác” của Bob ra rồi, tôi liền chuẩn bị cho mình. Tôi nhìn vào các túi áo. Tôi lấy tấm thẻ Oyster ra và thấy nó cũng bị hư hại vì cú ngã. Nó bị uốn cong và gần như đã gãy. Không cách nào dùng được nó ở ga tàu điện hay bến xe buýt nữa. Lại thêm một trở ngại.

Một trong những người tôi gặp đầu tiên là anh chàng thường dừng lại nói chuyện tên là Paul. Anh mua một cuốn Big Issue và đưa tôi tờ bạc 5 Bảng. Anh ta đi cùng một người khác, một anh chàng vậm vạp dữ tợn đầu cạo trọc và có hình xăm trên cổ.

Anh ta lập tức cật vấn Paul.

“Ông làm thế làm gì?” anh ta nói.

“Gì cơ?” Paul đáp.

“Sao ông lại đưa nó tận 5 Bảng? Nhìn thằng ấy xem, nó sẽ lại đốt ngay vào ma túy hoặc thứ bỏ mẹ gì khác thôi.”

“À không đâu,” anh nói. “Cậu ấy chỉ đang cố làm lại cuộc đời thôi. Cho cậu ấy cơ hội đi.”

Trong một khoản khắc tôi tưởng họ sẽ xông vào choảng nhau. Tôi miễn cưỡng chuẩn bị can ngăn. May thay, một sĩ quan cảnh sát cộng đồng đang ở gần đó và cảnh cáo bọn họ. Họ nhanh chóng bỏ đi.

Hai người vẫn tiếp tục cãi vã suốt dọc đường, vừa đi vừa gào thét và khua tay. Chuyện đó làm tôi thấy buồn, nhưng không làm tôi ngạc nhiên. Nó gói gọn thái độ mà tôi vẫn gặp phải kể từ lúc bắt đầu kiếm sống trên đường phố. Một số người sẵn lòng gạt bỏ nghi ngờ và giúp đỡ. Những người khác thì không. Chỉ đơn giản vậy thôi.

Đến lúc này đã là giữa chiều. Chuyến buýt dài và vụ tai nạn đã làm lãng phí nhiều thời gian. Tôi biết chúng tôi không thể nán lại lâu được. Đơn giản là quá lạnh. May sao bộ đồ Ông Mèo Tuyết mới của Bob đã ngay lập tức gây chú ý.

“Ôi nhìn kìa, dễ thương quá,” một du khách người Mỹ nói, khởi đầu một trào lưu kéo dài cả mấy giờ liền sau đó. Đến cuối buổi chiều thì tôi phải nghe thấy câu ấy đến năm chục lần. Mọi người không thể không dừng lại chụp ảnh. Thật mừng là hầu hết bọn họ đều mua tạp chí. Việc đó giúp tôi thấy vui lên một chút.

Đến cuối chiều, khi số người qua lại ga tàu tăng dần, việc bán hàng cũng khởi sắc. Tôi đã phải chạy đến quầy điều phối của Big Issue để lấy thêm tạp chí. Tôi có cảm giác mọi việc sẽ tiến triển tốt và đã đem hầu hết tiền đi tái đâu tư. Đây là canh bạc nhưng tôi tin nó đáng chơi.

Bob luôn luôn biết rõ khi nào thì tôi cần hắn làm phép và dường như hôm nay hắn đã nhận ra. Chúng tôi có vài ngón nghề trình diễn có vẻ như làm hài lòng được đám đông. Tôi sẽ dùng đồ ăn vặt dụ hắn đứng trên chân sau. Đôi khi hắn tóm lấy tay tôi và tôi sẽ nhấc hắn lên khỏi mặt đất mà vẫn giữ nguyên tư thế ấy. Chiều nay, hắn có vẻ muốn diễn hết các trò. Cứ như thể hắn cảm thấy có cơ hội và đang cố nói, Nào anh bạn, trời nắng thì tranh thủ phơi rơm nào[2]. Dĩ nhiên là trời có nắng đâu. Dù vậy, may sao là tuy thời tiết vẫn ảm đạm nhưng tuyết đã ngớt.

Tôi biết chúng tôi đang kiếm tốt nhưng cũng nhớ những quy tắc vàng khi kiếm sống trên đường phố. Tôi cẩn thận cất hết tiền kiếm được vào chiếc ví mà tôi cất sâu trong áo khoáng. Cẩn thận không thừa. Tôi từng là nạn nhân của đám móc túi và bị côn đồ đe dọa trước đây. Tôi tuyệt đối không thể để việc đó xảy ra hôm nay được. Như thế thật quá sức chịu đựng.

Ngày hôm nay đã biến động lắm rồi. Một ngày bắt đầu thật thảm họa nhưng rồi cũng khởi sắc chút ít. Tuy vậy, mọi việc sắp sửa còn tốt hơn nhiều.

Lúc đó là tầm 4 giờ 30 phút chiều, vào thời điểm này trong năm thì vừa mới chập tối, và một điều thú vị bắt đầu diễn ra. Đã chừng nửa tháng rồi chúng tôi chưa ở bên ngoài nhà ga lâu. Chúng tôi cứ xuất hiện là hoặc bị xủa đuổi, không vì thời tiết thì cũng vì những các thiện tặc tưởng như luôn luôn hiện diện. Tuy nhiên, hôm nay thì không thấy dấu hiệu nào của họ. Thật tuyệt khi lại có được cả khu vực cho riêng mình, nhất là khi mọi người có vẻ thật sự vui khi thấy chúng tôi.

Tôi nhận được gợi ý đầu tiên về việc mọi người nhớ chúng tôi đến thế nào khi hai người bạn làm việc ở ga tàu điện ngầm xuất hiện, là Davika và Amy.

“Chào hai bạn, hai bạn trốn ở đâu thế hả? Tôi hy vọng là chỗ nào đó ấm áp chứ,” Davika nói.

Tôi không dám kể với chị rằng chúng tôi đang sống trong một cái tủ lạnh[3].

Tôi giải thích những chuyện mới xảy ra và cho họ xem cây ghi-ta khá thảm hại của mình.

“Chờ tôi một phút nhé,” Ami nói rồi biết mất vào trong ga.

Chị sớm xuất hiện lại cùng một cuộn băng keo vải cỡ lớn.

Chúng tôi nhanh chóng cùng nhau sửa phần mặt trước. Mặt bên thùng đàn giờ được quấn trong chừng mười lớp băng dầy, nhưng tôi chẳng quan tâm. Đàn lại phát ra tiếng chấp nhận được, nên tôi có thể hát rong sau, nếu cần.

Nhưng hóa ra là không cần thiết. Hoàn toàn ngược lại. Chúng tôi chẳng cần phải đi đâu cả.

Giờ cao điểm đến gần, chúng tôi bắt đầu thấy rất nhiều khách hàng quen thuộc đang trên đường đi làm về. Một trong những người đầu tiên là một quý bà tên Angela, bà ở trong nhóm những người hủng hộ trung thành nhất của chúng tôi. Tôi thấy bà từ xa tiến lại. Bà vừa đi vừa cúi gằm mặt, trông có vẻ hơi buồn bã nhưng rồi bà thấy chúng tôi. Ngôn ngữ cơ thể bà thay đổi tức thì và bà gần như chạy đến chỗ chúng tôi, điều đó thật ấn tượng nếu biết bà đã ngoài bảy mươi tuổi.

“Ôi, thật là một bất ngờ đáng yêu. Bác không nghĩ là được gặp lại các cháu trước Giáng Sinh, thời tiết mới tệ làm sao,” bà nói đầy hào hứng.

“Không ạ, chúng cháu sẽ ở đây mấy ngày,” tôi đáp. “Cần kiếm ít tiền để sống qua kỳ lễ, bác biết đấy?”

“À, ừ,” Angela đáp, rồi bất ngờ lục túi xách. “Ôi đâu mất rồi? Bác cầm cái này theo đến nửa tháng nay rồi, mong gặp các cháu mãi. À, của cháu đây,” bà nói và chìa ra một chiếc phong bì trắng.

Là một tấm thiếp Giáng Sinh.

“Ôi, cảm ơn bác nhiều,” tôi nói và lập tức lại thấy có lỗi vì tôi chẳng có thiếp mừng cho bà.

“Bác có chút ít trong đó để giúp các cháu qua Giáng Sinh. Bác biết giờ là quãng thời gian khó khăn trong năm.”

“Angela ơi, bác chu đáo quá.”

Tôi muốn mở phong bì đến chết đi được, nhưng cố kiềm chế không làm thế trước mặt bà. Angela quỳ xuống vuốt ve Bob một chút trong lúc chúng tôi trò chuyện. Bà nán lại với chúng tôi ít nhất mười phút.

Trí tò mò chiến thắng ngay khi bà cất bước. Tôi mở chiếc phong bì và thấy có 40 Bảng trong đó. Tôi có cảm giác lẫn lộn giữa lòng biết ơn và sự nhẹ nhõm. Tôi không tin nổi là có người lại hào phóng đến thế.

“Lên hương rồi Bob ơi,” tôi nói rồi cho hắn một miếng đồ ăn vặt, mặt tôi cười rõ tươi. Hắn đứng lên hai chân sau ngay lập tức, thu hút những tiếng ố-ố-ố á-á-á quen thuộc từ đám đông đang ken chặt dần bên ngoài nhà ga. Thậm chí có cả một tràng ánh đèn chớp từ điện thoại chụp ảnh của mọi người. Chúng tôi thường tạo ra bầu không khí này vào mùa hè nhưng vào thời điểm này trong năm thì hiếm khi. Thật tốt được trở lại với ánh đèn sân khấu. Cũng rất tốt khi bạn kiếm được cả tiền.

Tôi chỉ vừa mới cất số tiền bác Angela cho cẩn thận vào trong áo khoác thì một vị khách quen khác xuất hiện.

“A ha, cặp đôi năng động. Hai cậu ra gặp chúng tôi trước Giáng Sinh đấy nhỉ,” chị nói.

Cả chị cũng chìa ra tấm thiếp. “Chẳng nhiều nhặn gì, nhưng tôi muốn hai cậu biết thời điểm này trong năm tôi có nghĩ đến hai cậu.”

Đến lúc này tôi đã thấy xúc động lắm rồi trước lòng tốt dường như đang đồng loạt trào ra như lũ.

“Ôi trời, mọi người tốt quá. Tôi không tin nổi bao nhiêu người đã tặng thiếp cho tôi hôm nay nữa,” tôi nói với chị sau khi thấy tấm thiếp có chứa 10 Bảng nữa.

“Chẳng phải Giáng Sinh là như thế sao?” chị đáp. “Đối xử tốt với người khác, nhất là những người kém may mắn hơn mình.”

Trong vòng hai giờ tiếp theo, tôi nhận được nửa tá thiếp mừng. Một tấm chứa phiếu giảm giá của Marks & Spencer, thật là tốt. Tôi chưa từng đủ tiền để mua đồ ăn ở đấy trong điều kiệm bình thường. Ba chiếc khác chứa tiền. Mỗi lần tôi mở thiếp và thấy tờ bạc năm hay mười Bảng bên trong, tinh thần tôi lại dâng lên. Nhưng không phải chỉ có số tiền làm tôi xúc động; có những thông điệp bên trong thiếp suýt làm tôi òa khóc.

Tôi sớm nhận ra là có rất nhiều người đã có kế hoạch tặng chúng tôi thiếp khi chúng tôi vắng mặt. Đến đầu buổi tối, tôi tính mình đã nhận được gần 100 Bảng. Tôi sung sướng. Như thể có một phép màu nho nhỏ. Và nó chẳng xảy ra ở Phố số 34[4] hay bất kỳ nơi nào mà phim Hollywood về Ông Già Tuyết từng lấy bối cảnh. Nó xảy ra ở ngay đây, trên Phố Upper này.

Tất cả những lo âu trước đó trong ngày đột nhiên tan biến. Tôi thậm chí quên cả cơn đau dai dẳng sau cú ngã. Tâm trí tôi đã bay vượt thời gian và đang tự hỏi không biết mình sẽ mua món ngon gì ở Marks & Spencer khi tôi dùng phiếu giảm giá.

“Đời chẳng phải lạ lùng sao,” tôi tự nói với mình. “Hai mươi tư giờ trước mình tin rằng sẽ phải vào nhà tình thương hoặc đến ăn bữa tối Giáng Sinh ở trung tâm từ thiện. Giờ thì mình lại mơ tưởng món bánh pút-đinh bơ cứng.[5]

Tôi không muốn bắt Bob ở ngoài trời rét lâu hơn cần thiết, nhưng vẫn nán lại thêm chừng nửa giờ để những người thường đi làm về muộn hơn một chút có thể thấy chúng tôi. Thật là hơi điên nhưng một phần trong tôi lúc này thấy tội lỗi nếu tôi không cho mọi người cơ hội chúc hai chúng tôi có một Giáng Sinh hạnh phúc. Rõ ràng là rất nhiều người thất vọng vì không thấy chúng tôi gần đây. Tôi không muốn lại làm họ thất vọng nữa.

Rồi rất nhiều người nữa cũng đến, cũng vui mừng như bất kỳ ai khác khi thấy chúng tôi vẫn sống sót khỏe mạnh.

“Có người bảo tôi hai ông chuyển nhà khỏi Luân Đôn rồi cơ,” một anh chàng nói.

Một quý bà khác thì bảo bà nghe được rằng tôi đang ốm nặng lắm. Có cảm giác như được về nhà. Chúng tôi đang được chào đón gần như những người hùng trở về. Nhiệt độ lại đang tiến gần về không, nhưng tôi thấy ấm áp từ sâu thẳm bên trong.

Cuối cùng thì Bob và tôi rời đi vào lúc 7 giờ 30 tối.

Quá nhiều chuyện đã xảy ra đến mức tôi quên cả chuyện tấm thẻ Oyster bị méo. Khi leo lên xe buýt, tôi cố nắn nó lại cho có vẻ bình thường nhưng suýt nữa thì thành công trong việc bẻ nó làm hai.

Một số tài xế sẽ không cho tôi lên xe với tấm thẻ như thế, nhưng may thay anh lái xe tối nay là một người tử tế.

“Anh đưa thẻ đây,” anh ấy nói khi tôi cố quét tấm thẻ trên đầu đọc mà không được.

Sau khi vuốt tấm thẻ rất cẩn thận một lát, anh ấy làm nó phẳng lại như cũ. Tôi ngạc nhiên trước tiếng “ping” quen thuộc khi anh ấy quét nó qua máy đọc.

“Của anh đây,” anh nói với một nụ cười.

“Cảm ơn anh bạn, anh thật là cứu tinh đấy,” tôi đáp.

Chuyến xe buýt vẫn chậm, nhưng tôi chẳng màng. Tâm trí tôi đang làm việc ngoài giờ với đủ thứ suy tư đang quay cuồng trong đầu. Tôi vui sướng. Nhưng tôi cũng cảm động ngoài sức tưởng tượng. Tôi biết chúng tôi nổi tiếng ở Angel, nhưng tôi không nhận ra rằng mình có được tìm cảm sâu đậm đến thế. Không có cách giải thích nào khác, ngoài chúng tôi được yêu thương. Và điều ấy làm tôi thấy mềm lòng.

Tôi cũng thấy mình có phúc vô cùng.

Khi nhìn ra ngoài, phía những dãy nhà với đồ trang trí Giáng Sinh thắp sáng những ô cửa sổ, tôi nhận ra tôi may mắn đến thế nào. Phải, tôi đã sống cuộc đời khó khăn và đã chịu nhiều tổn thất mà không ít trong số đó là do tôi tự gây ra. Nhưng cuối cùng thì vẫn có một điều không thay đổi. Tôi đã nhận được biết bao lòng tốt, thường là từ những người hoàn toàn xa lạ, từ những nhân viên cộng đồng đến các bác sĩ  tư vấn cai nghiện, từ những nhân viên tiếp cận cho đến những con người bình dị đã dành thời gian nói chuyện với tôi khi tôi ở ngoài đường phố. Luân Đôn đã mang tiếng xấu, nhưng phố phường của nó thì đầy ắp những tâm hồn lương thiện. Người đàn ông đang lái chiếc xe buýt chở tôi vào lúc này là một tâm hồn như thế. Có quá nhiều người như anh. Từng người riêng lẻ thì hành động tốt đẹp của họ không làm nên gì nhiều. Nhưng cùng nhau, họ có lẽ đã cứu đời tôi.

Điều xảy ra bên ngoài ga Angel hôm nay là một ví dụ điển hình. Tôi nghĩ về tất cả những người đã đến, đã tặng tôi thiếp mừng và tiền. Chẳng ai trong số họ cần phải làm thế. Họ làm vậy vì lòng tốt trong tim họ, họ làm vậy với tinh thần Giáng Sinh. Cái điều huyền bí nhiệm màu ấy trước đây đã làm tôi lúng túng. Tôi thấy biết ơn vô cùng.

Tuy vậy, nó dẫn tới một suy nghĩ khác. Tôi thấy thật tệ là mình chưa thể hiện lòng biết ơn đến nơi đến chốn. Không phải chỉ hôm nay mà là chưa bao giờ. Khi tôi còn non trẻ thì việc ấy còn dễ hiểu một chút. Tôi đã không còn trẻ để cư xử như thế nữa. Tôi thường quá tức giận hoặc quá say sưa để nói được một câu cảm ơn tử tế. Nhưng đó là một thời kỳ khác, một tôi khác. Giờ tôi là người khác rồi. Giờ tôi không có gì để bào chữa, giờ tôi có thể nói cảm ơn. Và giờ là thời điểm hoàn hảo trong năm để làm việc đó. Khi ngồi đó, trên xe buýt, tôi lên kế hoạch. Tôi có một cơ hội và sẽ nắm lấy nó.  Có cảm giác như tôi đã sáng tỏ.

Trên đường về căn hộ, tôi xuống xe ở một cửa hàng tiện lợi và nạp tiền cả thẻ điện và thẻ ga. Tôi nạp 80 Bảng, mỗi thẻ 40 Bảng. Thế là đủ để qua được Giáng Sinh và sau đó nữa, tôi chắc chắn. Tôi không thể không lắc đầu trước những thay đổi đã đến với mình. Vài năm trước thì không đời nào có chuyện tôi làm được việc có ý thức thế này. Tôi sẽ đốt hết vào ma túy. Nhưng giờ tôi đã có một cách nhìn khác với cuộc đời. Tôi lại còn có người để chăm sóc nữa.

Bob vẫn đang kiên nhẫn đứng trên vai tôi, nhưng tôi biết hắn đã mệt và rét. Tôi cũng đang mong đợi được sưởi ấm căn hộ để hắn được rã đông bên máy sưởi.

Tôi nhặt một lít sữa và một gói thức ăn nhẹ cho Bob và đặt chúng lên quầy.

“Tất cả đây phải không?” anh chàng thu ngân hỏi.

“À. Không, chờ tôi một chút,” tôi nói khi chợt nhớ ra kế hoạch tôi vẽ ra trên xe buýt.

Tôi tiến về khu vực văn phòng phẩm nhỏ bé của cửa hàng. Chẳng có nhiều lựa chọn thiếp mừng Giáng Sinh lắm. Tôi đoán hầu hết mọi người đã mua thiếp từ nhiều tuần trước rồi. Tuy vậy, cuối cùng tôi cũng tìm thấy một chồng thiếp được đóng hộp, mỗi tấm có một thông điệp chúc mừng bên trên. Có sáu hộp trong chồng, mỗi hộp có một tá thiếp. Tôi lấy hai hộp.

“Anh có nhiều bạn thật,” anh chàng sau quầy nói khi đặt hai chiếc hộp lên khay tính tiền.

Đó là một lời bình luận vô tư, anh ta chỉ đang cố bắt trò chuyện lịch sự, nhưng lời anh ta làm tôi suy nghĩ.

“Thật ra thì anh đúng đấy. Tôi có nhiều bạn,” tôi đáp và mỉm cười.

Tôi chạy ngược lại chỗ chồng thiếp Giáng Sinh và vơ lấy cả bốn hộp kia.

“Tôi lấy cả chỗ này nữa,” tôi nói.


[1] Nguyên văn: acoustic – đàn ghi-ta cần nhỏ, dây kim loại, thường dùng để đệm hát.

[2] Nguyên văn: make hay while the sun shines – thành ngữ, nghĩa là khi có cơ hội thì phải tận dụng. Do có câu sau giải thích rằng trời không hề có nắng thật nên người dịch giữ nguyên nghĩa đen.

[3] Nguyên văn: Igloo – nhà của người Eskimo, xây bằng các khối bang tuyết, một nửa chìm dưới mặt đất.

[4] Ám chỉ bộ phim Miracle on 34th Street.

[5] Nguyên văn: sticky toffee pudding.

Published by

Lưu Quang (流光)

Dịch sách dạo kiếm gạo nuôi mèo

Leave a Reply